3 trường hợp "tuyệt đối" không được cho NLĐ làm thêm giờ

 

Kể từ 01/01/2021, khi Bộ luật Lao động 2019 có hiệu lực thì người sử dụng lao động không được sử dụng người lao động làm thêm giờ trong nhiều trường hợp, ngay cả khi người lao động đồng ý gồm:

- Mang thai từ tháng thứ 07 hoặc từ tháng thứ 06 nếu làm việc ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo;

- Lao động chưa đủ 15 tuổi;

- Lao động từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi làm thêm giờ trong một số nghề, công việc ngoài danh mục do Bộ trưởng Bộ LĐTBXH ban hành.

Ngoài các trường hợp trên thì người sử dụng lao động cũng không được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi và người khuyết tật nhẹ suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên, khuyết tật nặng hoặc khuyết tật đặc biệt nặng (trừ trường hợp được người lao động đồng ý).

(Khoản 1 Điều 137, Điều 146 và Điều 160 Bộ luật Lao động 2019)

Như vậy, khác với Bộ luật Lao động 2012 thì quy định mới đã cho phép người sử dụng lao động được sử dụng người lao động đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi làm thêm giờ nếu người lao động đồng ý.

Khi nào được sử dụng lao động làm thêm giờ?

Theo Điều 107 Bộ luật Lao động 2019, người sử dụng lao động được sử dụng người lao động làm thêm giờ khi đáp ứng đầy đủ các yêu cầu sau đây:

- Phải được sự đồng ý của người lao động;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 50% số giờ làm việc bình thường trong 01 ngày; trường hợp áp dụng quy định thời giờ làm việc bình thường theo tuần thì tổng số giờ làm việc bình thường và số giờ làm thêm không quá 12 giờ trong 01 ngày; không quá 40 giờ trong 01 tháng;

- Bảo đảm số giờ làm thêm của người lao động không quá 200 giờ trong 01 năm.

Riêng đối với một số ngành, nghề, công việc hoặc trường hợp sau đây thì không quá 300 giờ/năm:

+ Sản xuất, gia công xuất khẩu sản phẩm hàng dệt, may, da, giày, điện, điện tử, chế biến nông, lâm, diêm nghiệp, thủy sản;

+ Sản xuất, cung cấp điện, viễn thông, lọc dầu; cấp, thoát nước;

+ Trường hợp giải quyết công việc đòi hỏi lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao mà thị trường lao động không cung ứng đầy đủ, kịp thời;

+ Trường hợp phải giải quyết công việc cấp bách, không thể trì hoãn do tính chất thời vụ, thời điểm của nguyên liệu, sản phẩm hoặc để giải quyết công việc phát sinh do yếu tố khách quan không dự liệu trước, do hậu quả thời tiết, thiên tai, hỏa hoạn, địch họa, thiếu điện, thiếu nguyên liệu, sự cố kỹ thuật của dây chuyền sản xuất;

+ Trường hợp khác do Chính phủ quy định.

Khi tổ chức làm thêm giờ trong trường hợp nêu trên, người sử dụng lao động phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc UBND cấp tỉnh.

- Lưu ý: Người sử dụng lao động có quyền yêu cầu người lao động làm thêm giờ vào bất kỳ ngày nào mà không bị giới hạn về số giờ làm thêm và người lao động không được từ chối trong trường hợp (Điều 108):

+ Thực hiện lệnh động viên, huy động bảo đảm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh theo quy định của pháp luật;

+ Thực hiện các công việc nhằm bảo vệ tính mạng con người, tài sản của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong phòng ngừa, khắc phục hậu quả thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm và thảm họa, trừ trường hợp có nguy cơ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của người lao động theo quy định của pháp luật về an toàn, vệ sinh lao động.

 

Bình luận:

    Mời bạn Đăng nhập để có thể tham gia bình luận