Phân biệt: Tội tham ô tài sản và Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

 

Tham ô tài sản và lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là hai loại tội phạm tham nhũng khá phổ biến hiện nay.

Thời gian gần đây có rất nhiều vụ án mà hành vi phạm tội xảy ra liên quan tới 02 loại tội phạm này, gây thất thoát hàng nghìn tỷ đồng cho ngân sách nhà nước mỗi năm.

Về cơ bản, nếu chúng ta không tìm hiểu kỹ thì sẽ thấy 02 loại tội danh nêu trên tương tự nhau và rất dễ gây ra nhầm lẫn, thậm chí một số trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng cũng rơi vào tình trạng lúng túng khi xác định tội danh.

Chính vì vậy, bảng phân biệt mà tác giả đưa ra dưới đây sẽ phần nào giúp Quý bạn đọc hiểu rõ hơn để nghiên cứu và tham khảo:

 

Tiêu chí

 Tội tham ô tài sản

 Tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

 

 

 Giống nhau

- Cả 2 đều thuộc nhóm tội phạm liên quan đến tham nhũng;

- Là loại tội phạm cấu thành vật chất;

- Xâm phạm đến quan hệ sở hữu, sự hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước;

- Xuất phát từ lỗi cố ý trực tiếp với mục đích chiếm đoạt tài sản, là dấu hiệu bắt buộc cấu thành tội phạm;

- Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt sản;

- Chủ thể đặc biệt, ngoài 02 dấu hiệu như chủ thể thường, bao gồm: Có năng lực chịu trách nhiệm hình sự  là là người có chức vụ, quyền hạn;

- Đều có động cơ vụ lợi;

- Hình phạt bổ sung: Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 Khác nhau

 

Đối tượng tác động

Đối tượng của tội tham ô tài sản phải là tài sản đang do người phạm tội quản lý một cách hợp pháp (do chức vụ, cương vị công tác đem lại); và là tài sản của Nhà nước.

Đối tượng của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản là tài sản của người khác và đang dưới sự quản lý của người khác, đó có thể là tài sản của Nhà nước.

  

 

 

Hành vi khách quan

Hành vi của người phạm tội sử dụng chức vụ như một phương tiện để biến tài sản mình được giao quản lý thành tài sản cá nhân như:

+ Sử dụng quyền hạn thực hiện không đúng chức trách của mình hoặc làm trái chế độ quản lí tài sản thuộc lĩnh vực công tác cuẩ mình với mục đích chiếm đoạt tài sản;

 + Hoặc sử dụng quyền hạn vượt quá giới hạn cho phép nhưng có liên quan đến cương vị công tác với mục đích chiếm đoạt tài sản.

Hành vi người phạm tội sử dụng chức vụ như một phương tiện để làm một việc vượt ra ngoài trách nhiệm được giao nhằm chiếm đoạt tài sản như:

+ Lạm dụng chức vụ, quyền hạn uy hiếp tinh thần chủ tài sản buộc họ giao tài sản;

 + Lạm dụng chức vụ, quyền hạn lừa dối người khác nhằm chiếm đoạt tài sản;

 + Hoặc lạm dụng tín nhiệm của chủ tài sản dựa vào chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt tài sản, tức là nếu không có chức vụ, quyền hạn thì người phạm tội không tạo ra được sự tín nhiệm để được chủ tài sản tin và giao tài sản rồi sau khi có tài sản đó trong tay người phạm tội đã chiếm đoạt 1 phần hoặc toàn bộ tài sản đó.


Khung hình phạt

- Khung hình phạt thứ nhất: 02 – 07 năm.

 - Khung hình phạt thứ hai: 07 – 15 năm.

 - Khung hình phạt thứ ba: 15 – 20 năm.

 - Khung hình phạt thứ tư: 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.

- Khung hình phạt thứ nhất: 01 – 06 năm.

- Khung hình phạt thứ hai: 06 – 13 năm.

 - Khung hình phạt thứ ba: 13 – 20 năm.

 - Khung hình phạt thứ tư: 20 năm hoặc tù chung thân.

Căn cứ pháp lý

Điều 353 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017)

 Điều 355 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi 2017)

Bảng: Phân biệt tội tham ô và lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
 

Bình luận:

    Mời bạn Đăng nhập để có thể tham gia bình luận