Cặp vợ chồng đưa kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm ra thế giới

Thứ Tư, ngày 27/2/2019 - 06:40
(PL)- Cặp vợ chồng bác sĩ Ngọc Lan - Mạnh Tường đã cùng nhau thực hiện những nghiên cứu táo bạo, đưa kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm của Việt Nam ghi dấu ấn trên bản đồ y học thế giới.

Sài Gòn một ngày đầu năm, chúng tôi hẹn bác sĩ (BS) Vương Thị Ngọc Lan và Hồ Mạnh Tường, cặp vợ chồng được biết đến là một trong những người tiên phong trong kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm (IVF) ở Việt Nam (VN).

Qua điện thoại, BS Lan cho biết chị đang chấm bài cho sinh viên, BS Tường thì đang công tác ở miền Tây. Chị chia sẻ vài ngày rồi chị cũng chưa gặp chồng vì có khi BS Tường về thì chị lại đi và ngược lại.

Thời khắc lịch sử

Rồi chúng tôi cũng sắp xếp được buổi hẹn mà cả hai vợ chồng cùng có mặt tại căn nhà nhỏ trên đường Trần Đình Xu (quận 1, TP.HCM).

Khi trò chuyện, BS Lan khá sôi nổi còn BS Tường lại điềm tĩnh. Thế nhưng ánh mắt cả hai đều rạng ngời khi nhắc lại những ngày đầu bắt tay vào công việc - thời điểm cả nước chưa từng có em bé thụ tinh ống nghiệm nào ra đời. Có lẽ họ cũng không ngờ đó là cái nghiệp theo suốt đời mình.

Vào những năm 1990, công tác IVF được Bệnh viện (BV) Từ Dũ, TP.HCM quyết tâm thực hiện đầu tiên trên cả nước. BS Tường là một trong những người được cử đi học ở Pháp về IVF và nằm trong êkíp học tập chuyển giao công nghệ IVF từ các chuyên gia người Pháp sang VN làm việc.

BS Tường nhớ lại: “Thời điểm đó, trong xã hội, ngành y và ngay cả ở BV có nhiều dư luận không đồng tình, thậm chí chống đối triển khai IVF ở VN. Thậm chí một giáo sư tiến sĩ trong ngành đã gửi thư đến Quốc hội đòi cấm làm IVF vì sợ rằng… sẽ sinh ra quái thai. Bởi vậy, thành công hay thất bại của chương trình có thể ảnh hưởng đến sinh mệnh chính trị và uy tín của nhiều người liên quan đến nó”.

Do đó, êkíp đã làm việc ngày đêm chuẩn bị cho thời khắc lịch sử của IVF VN. Tất cả dụng cụ làm IVF như thuốc, hóa chất, môi trường nuôi cấy... đều được mang từ Pháp về. BS Lan lúc này mới ra trường, vào làm việc ở BV.

“Mẹ tôi là BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng, Giám đốc BV và làm tổng chỉ huy chương trình, tôi phụ ghi chép theo dõi bệnh nhân. Đoàn Pháp qua thực hiện chọc hút lấy trứng muốn biết tình trạng bệnh nhân thì tôi cung cấp. Một nữ chuyên gia người Pháp còn khá trẻ nói với tôi muốn làm công việc này tốt trước hết phải hiểu bệnh nhân nên đã đề nghị tôi vào nhóm nghiên cứu” - BS Lan nhớ lại.

Vì đều còn trẻ nên BS Lan và BS Tường chủ yếu dành thời gian ở BV. “Lúc mới thực hiện IVF, chúng tôi gặp muôn vàn khó khăn, thuốc gì cũng không có. Danh mục Bộ Y tế cũng không hề có chọc hút phôi, thụ tinh ống nghiệm, chúng tôi cũng không quan tâm được lãnh bao nhiêu tiền. Ngày nào cũng làm việc quần quật từ 7 giờ sáng đến 8 giờ tối, không có cả thời gian xài tiền” - BS Lan kể.

Cặp vợ chồng đưa kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm ra thế giới - ảnh 1
Lab IVF ở BV Từ Dũ năm 1999 còn rất sơ khai. Ảnh: TL

Cặp vợ chồng đưa kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm ra thế giới - ảnh 2
Gia đình BS Mạnh Tường - Ngọc Lan cùng mẹ là BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Ảnh: TL

Mọi quan tâm của êkíp là phôi có tốt không, bệnh nhân có thai không. Họ hồi hộp khi thông báo kết quả chuyển phôi, nín thở theo dõi thai nhi có dấu hiệu bất thường. Áp lực càng nặng khi cả xã hội đều biết BV Từ Dũ đang triển khai kỹ thuật này và trông chờ những đứa bé thụ tinh ống nghiệm sẽ ra sao, có giống những đứa trẻ bình thường không.

Đứa bé được sinh mổ vào ngày 30-4-1998 cùng với hai bé Lưu Tuyết Trân và Mai Quốc Bảo sau này được đặt tên Phạm Tường Lan Thy. Hai chữ Tường, Lan là lời cám ơn chân thành của cha mẹ bé với hai bác sĩ (dù lúc này họ chưa thành vợ chồng). Đứa bé ấy nay đã là cô gái 21 tuổi giỏi giắn, được biết đến là “hot girl ống nghiệm” với thành tích học tập nổi bật và đang du học ở Nhật.

Y học luôn có giới hạn

Trong những ngày tháng cần mẫn nhen nhóm từng mầm sống, BS Lan và BS Tường đã dần tìm thấy ở nhau sự đồng cảm, gần gũi và quyết định về chung một nhà.

BS Lan chia sẻ mỗi ngày chị đều gặp rất nhiều ca khó. Có bệnh nhân điều trị ròng rã 10-15 năm ở nhiều BV khác nhau, có những bệnh nhân thất bại hơn 10 lần. Nhiều trường hợp hạnh phúc gia đình bị đe dọa nếu điều trị thất bại, người vợ không thể có con.

“Chúng tôi có nhiều ca thành công và cũng có những ca thất bại. Y học luôn có giới hạn của nó. Khi điều trị một ca thành công, nhìn niềm vui của các gia đình, chúng tôi ý thức được nhiều hơn ý nghĩa công việc mình đang làm. Đó là một trong những động lực giúp chúng tôi vượt qua khó khăn để học tập và làm việc tốt hơn, giúp được nhiều người hơn.

Nhiều khi nhìn bệnh nhân không thể có con sau nhiều năm điều trị tốn kém, chúng tôi cảm thấy có lỗi một phần. Nhưng những cặp vợ chồng phải chia tay vì điều trị thất bại làm chúng tôi ray rứt nhất. Từ đó chúng tôi quyết tâm nghiên cứu các phác đồ điều trị mới, tăng cơ hội thành công của IVF” - BS Lan bày tỏ.

Nghiên cứu gây tiếng vang thế giới  

Sự đồng cảm, chia sẻ trong công việc đã giúp cặp vợ chồng BS cùng “thăng hoa” thực hiện những công trình nghiên cứu mang tính bước ngoặt. Họ miệt mài chuyển giao kỹ thuật IVF, đưa kỹ thuật thụ tinh ống nghiệm của VN vươn tầm Đông Nam Á và thế giới.

“Phần thưởng lớn nhất của người làm nghiên cứu là khi kết quả nghiên cứu được công nhận, được công bố trên các tạp chí uy tín và nhiều người ứng dụng kết quả nghiên cứu vào điều trị cho người bệnh” - BS Tường chia sẻ.

Vào những năm 2000, công bố nghiên cứu khoa học trên các tạp chí y học nổi tiếng không xa lạ trên thế giới nhưng còn lạ lẫm ở VN. Nhiều năm học tập ở nước ngoài, hơn ai hết họ hiểu được ý nghĩa của việc công bố công trình nghiên cứu trên các tạp chí này.

20.000 là số cặp vợ chồng hiếm muộn do BS Ngọc Lan - Mạnh Tường trực tiếp điều trị trong hơn 20 năm qua.

Ngoài ra, họ còn tham gia đào tạo nhiều bác sĩ ở VN và các nước, chuyển giao công nghệ cho nhiều BV trong nước. Ước tính đã có hơn 10.000 ca điều trị thành công. 

BS Lan nhớ lại cảm giác hồi hộp khi gửi bài cho tạp chí RBMO về phác đồ điều trị cho bệnh nhân có hội chứng buồng trứng đa nang với liều thuốc được hạ xuống thấp nhất phù hợp với thể trạng gầy của người Việt. Sau khi nhận được phản hồi với hàng chục câu hỏi bắt bẻ, nghi ngờ số liệu, chị cảm thấy khá hụt hẫng.

Không nản lòng, không muốn VN có ấn tượng xấu, chị kiên nhẫn soạn thư. Thư đi qua lại nhiều lần, đến khi hết “vốn” trả lời, nhóm nghiên cứu vẫn tiếp tục nhận được câu hỏi. BS Lan thay mặt nhóm phản hồi lần cuối: “Những gì tôi đã trả lời là tất cả những gì tôi có”.

Bất ngờ đã xảy ra vào phút chót khi công trình nghiên cứu được chấp nhận và đăng trang trọng trên tạp chí. Thông qua bài báo, nhóm nghiên cứu được biết đến nhiều hơn. Không lâu sau hội nghị phóng noãn thế giới được tổ chức, hai vợ chồng được mời đích danh tham dự báo cáo và chia sẻ kinh nghiệm.

Thừa thắng xông lên, nhóm tiếp tục nghiên cứu và công bố nhiều đề tài trên các tạp chí y học uy tín thế giới. Đến nay nhóm đã có gần 30 bài báo công bố quốc tế. Gần đây họ gây xôn xao dư luận trong và ngoài nước khi công trình nghiên cứu về trữ phôi đông lạnh hay phôi tươi trong kỹ thuật IVF hiệu quả hơn đăng trên tạp chí y khoa New England Journal of Medicine (NEJM). Đây là lần đầu tiên chủ trì dự án là người VN có bài nghiên cứu đăng trên tạp chí này.

Niềm vui nhân lên khi BS Lan được hiệu trưởng ĐH Y Dược TP.HCM ký quyết định thưởng gần 300 triệu đồng về việc đăng bài báo quốc tế trên. BS Lan đã tặng toàn bộ tiền cho quỹ Giải thưởng tài năng trẻ ĐH Y Dược TP.HCM.

Thụ tinh ống nghiệm ở VN rẻ nhất thế giới

Chi phí khoảng 80 triệu đồng mỗi ca IVF không thấp so với thu nhập ở VN nhưng lại vào loại thấp nhất thế giới. Campuchia, Indonesia, Malaysia đã có thụ tinh ống nghiệm nhưng phải thuê chuyên gia nước ngoài hỗ trợ, còn ở VN chúng tôi tự làm nên tiết kiệm được rất nhiều tiền.

Ở Campuchia, mỗi ca IVF phải chi hơn 6.000 USD (hơn 140 triệu đồng). Ở Mỹ chỉ có người giàu mới lo nổi khi chi phí này lên đến 25.000 USD. Singapore dù được nhà nước hỗ trợ nhưng chi phí vẫn còn khá cao.

BS HỒ MẠNH TƯỜNG

HOÀNG LAN



Tin tức liên quan


Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn