Giải quyết hưởng trợ cấp ốm đau thai sản.

1/ Từ 9/2013 đến tháng 12/2014: Phường chi trả các chế độ bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản cá nhân của người lao động tại ngân hàng Đông Á Đà Nẵng. Không có ký nhận tiền mặt. 2/ Để đảm bảo tính kịp thời trong khi 2% BHXH để lại không đủ chi giải quyết các chế độ cho người lao động, đặc biệt là Chế độ thai sản với mức tiền cao… Thì chờ đến hàng quý BHXH mới quyết toán và chuyển tiền cho đơn vị sử dụng lao động thì quá chậm trể theo quy định. 3/ Sau khi cơ quan BHXH duyệt chi số tiền, phường lấy hồ sơ đã được BHXH duyệt làm căn cứ để chuyển khoản số tiền cho người lao động (tránh trường hợp đã giải quyết cho người lao động nhưng BHXH không quyết toán vì lý do nào đó) nên tất cả hồ sơ không có ký nhận vì chi trả các chế độ bằng hình thức chuyển khoản .

    Nội dung này được BHXH thành phố Đà Nẵng tư vấn như sau:

    • Bảo hiểm xã hội là cơ quan tổ chức thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, những vấn đề Bạn nêu trên thuộc quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cụ thể như sau:
      1. Việc thẩm định thanh quyết toán chế độ ốm đau thai sản thực hiện trên mẫu C70a-HD và các chứng từ liên quan. Mẫu C70a-HD do Bộ Tài chính ban hành theo Thông tư số 178/TT-BTC ngày 23/10/2012, trong Mẫu C70a-HD có cột D là cột ký nhận tiền chế độ của người lao động. Vì vậy việc yêu cầu người lao động ký nhận tiền vào cột D mẫu C70a-HD là đúng theo quy định của Bộ Tài chính dù cho người lao động nhận tiền dưới bất cứ hình thức nào.
      2.Tại Khoản a, Điểm 1, Điều 92 Luật BHXH quy định về mức đóng và phương thức đóng BHXH của người sử dụng lao động, đã quy định như sau:
      1. Hằng tháng, người sử dụng lao động đóng trên quỹ tiền lương, tiền công đóng bảo hiểm xã hội của người lao động quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 2 của Luật này như sau:
      a) 3% vào quỹ ốm đau và thai sản; trong đó người sử dụng lao động giữ lại 2% để trả kịp thời cho người lao động đủ điều kiện hưởng chế độ quy định tại Mục 1 và Mục 2 Chương III của Luật này và thực hiện quyết toán hằng quý với tổ chức bảo hiểm xã hội;
      Trong thực tế tổ chức thực hiện theo hướng dẫn của BHXH Việt Nam: Trường hợp đơn vị có số người hưởng chế độ lớn, có số chi lớn thì có thể quyết toán sớm với cơ quan BHXH.
      3.Điều 117 Luật BHXH quy định: Giải quyết hưởng chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ sau ốm đau, thai sản
      3.1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ có liên quan từ người lao động quy định tại Điều 112 và Điều 113 của Luật này, người sử dụng lao động có trách nhiệm giải quyết chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động.
      3.2. Hằng quý, người sử dụng lao động có trách nhiệm nộp hồ sơ của những người lao động đã được giải quyết chế độ ốm đau, thai sản, trợ cấp dưỡng sức, phục hồi sức khoẻ cho tổ chức bảo hiểm xã hội theo quy định tại các điều 112, 113 và 116 của Luật này.
      3.3. Tổ chức bảo hiểm xã hội có trách nhiệm quyết toán trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ; trường hợp không quyết toán thì phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
      Theo quy định thì chủ sử dụng lao động không thể chờ quyết toán với cơ quan BHXH rồi mới chi trả tiền cho người lao động như Bạn nêu.
      Những vấn đề nêu trên là quy định của Pháp luật BHXH hiện hành, đề nghị Bạn và đơn vị thực hiện đúng quy định.


    Nguồn:

    Bảo hiểm xã hội thành phố Đà Nẵng
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn