Người cao tuổi không có con, được chăm sóc tại cộng đồng có được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng không?

Ngày hỏi:12/08/2015

Tôi có người họ hàng xa, năm nay 60 tuổi, bà ấy không có con, chồng bà mất cách đây 4 năm nên bà ấy sống một mình từ đó đến nay. Gần đây bà hay bị ốm đau nên khó khăn về kinh tế và thuộc diện hộ nghèo. Rất thương bà nên tôi có ý định đón bà về ở cùng vợ chồng tôi để tiện đỡ đần những lúc trái gió trở trời, nhưng ngặt nỗi kinh tế gia đình tôi cũng không dư dả gì. Có người mách cho tôi là nhà nước có chính sách hỗ trợ cho người cao tuổi nghèo. Vậy xin hỏi, trong trường hợp bà về ở cùng chúng tôi thì nhà nước có hỗ trợ cho bà không, nếu được hỗ trợ thì mức hỗ trợ như thế nào? Cần phải những thủ tục gì để nhận được sự hỗ trợ của nhà nước?

    • Vấn đề bạn hỏi, chúng tôi xin trả lời như sau:

      Tại Điều 19 của Luật Người cao tuổi năm 2009 về Chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng quy định: Người cao tuổi thuộc hộ gia đình nghèo không có người có nghĩa vụ và quyền phụng dưỡng mà có người nhận chăm sóc tại cộng đồng thì được hưởng trợ cấp xã hội hằng tháng bằng mức nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội, được hưởng bảo hiểm y tế và hỗ trợ chi phí mai táng khi chết.

      Tại các Điều 5, 18, 19,20 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 10 năm 2013 quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội thì chế độ đối với đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng được hưởng như sau:

      - Trợ cấp xã hội hàng tháng theo mức chuẩn trợ cấp, trợ giúp xã hội hiện nay là 270.000 đồng nhân với hệ số 3,0

      - Cấp thẻ bảo hiểm y tế theo quy định;

      - Hỗ trợ chi phí mai táng bằng 20 lần mức chuẩn trợ giúp xã hội (tức 20 x 270.000 đồng).

      Để nhận được sự hỗ trợ của nhà nước thì cần làm hồ sơ đề nghị hỗ trợ kinh phí chăm sóc, nuôi dưỡng đối tượng bảo trợ xã hội bao gồm (Điều 21 Nghị định số 136/2013/NĐ-CP):

      a) Tờ khai nhận chăm sóc, nuôi dưỡng có xác nhận đủ điều kiện của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định;

      b) Bản sao sổ hộ khẩu của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng hoặc văn bản xác nhận của công an cấp xã về việc cư trú của người nhận chăm sóc, nuôi dưỡng;

      c) Tờ khai của đối tượng được nhận chăm sóc, nuôi dưỡng theo mẫu do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội quy định.

      Sau đó gửi hồ sơ tới Ủy ban nhân dân cấp xã, UBND cấp xã sẽ có trách nhiệm xem xét và đề nghị lên cấp huyện xem xét, quyết định trợ cấp xã hội.


    Nguồn:

    Trang thông tin tuyên truyền, Phổ biến pháp luật - Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật TP Hà Nội
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn