Bồi thường đất ở

Ngày hỏi:18/08/2012
Năm 1994 do ở chung với gia đình bố mẹ tôi quá chật chội, tôi có nhu cầu tách hộ giãn cư nên đã làm đơn xin UBND xã Bình Nghĩa cấp đất ở cho tôi. UBNS xã Bình Nghĩa đã chấp nhận đơn và cấp đất cho hộ gia đình của tôi với giá 40.000 đồng/mét vuông. Lúc đó do điều kiện kinh tế gia đình khó khăn nên tôi chỉ mua được 42 mét vuông. Tôi đã nộp tiền mua 42 mét vuông đó cho Ban Tài chính xã Bình Nghĩa,trên tờ Biên lai thu tiền của Ban Tài chính xã Bình Nghĩa có ghi dõ lí do thu tiền là: Bồi thường hoa lợi đất công. Từ đó đến nay tôi vẫn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế với nhà nước trên diễn tích 160 mét vuông,có biên lai,hóa đơn đầy đủ.Gia đình tôi ở đó đến nay không có tranh chấp gì xảy gia và đó cũng là chỗ ở duy nhất của gia đình tôi. Không hiểu vì lí do gì? Do bên gia đình tôi hay bên UBND xã Bình Nghĩa mà đến nay UBND xã Bình Nghĩa chưa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Sổ đỏ) cho tôi. Nay có Dự án "Nạo vét sông Châu Giang và bờ kè" đi qua nhà tôi,nhà tôi buộc phải di rời. Nhưng Ban Giải phóng mặt bằng của huyện Bình Lục giải thích rằng mảnh đất mà tôi đang ở vẫn là đất của UBND xã Bình Nghĩa và tôi đang cư trú trên mảnh đất đó theo dạng thuê đất của UBND xã Bình Nghĩa để ở (do chưa có Sổ đỏ). do đó Ban Giải phóng mặt bằng của huyện Bình Lục chỉ bồi thường tài sản, vật kiến trúc trên đát và đất ở cho gia đình tôi là 80% giá trị bồi thường. Vậy tôi xin hỏi mảnh đất tôi đang ở có hợp pháp và có thuộc quyền sở hữu của gia đình tôi không? Cách giải thích và phương án bồi thường của Ban Giải phóng mặt bằng huyện Bình Lục về việc bồi thường và thu hồi đất ở của tôi đã thỏa đáng và đúng luật chưa. UBND xã Bình Nghĩa có trách nhiệm gì trong việc chậm trễ cấp Sổ đỏ cho gia đình tôi không? Tôi xin chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Hà Nam tư vấn như sau:

    • Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:

      Theo như bà hỏi, trường hợp của bà thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng đã nộp tiền sử dụng đất

      Bà hỏi không rõ là tại thời điểm năm 1994 UBND xã Bình Nghĩa cấp cho bà 42 m2 đất và bà đã nộp tiền để sử dụng 42 m2 đất hay là UBND xã cấp cho bà 160 m2 nhưng bà mới chỉ nộp tiền 42 m2. Tuy nhiên chúng tôi trả lời như sau:

      1. Đối với đất

      Hạn mức giao dất ở mới cho hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn toàn tỉnh hiện nay áp dụng theo quy định kèm theo quyết định số 28/2006/QĐ- UBND ngày 03/10/2006. Đối với khu vực nông thôn không thuộc miền núi, hạn mức giao đất ở mới cho hộ gia đình là 200m2; riêng các thị tứ, khu vực trung tâm xã, ven chợ có lợi thế kinh doanh, hoạt động thương mại thuộc khu vực nông thôn (trừ miền núi), hạn mức giao đất mới là 150m2. Dựa vào hạn mức giao đất ở mới để thu tiền sử dụng đất khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc khi bồi thường, giải phóng mặt bằng.

      Trường hợp thứ nhất: UBND xã Bình Nghĩa cấp cho bà 42 m2 đất

      Theo quy định tại khoản 2 điều 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ thì diện tích 42 m2 đất bà đã nộp tiền được đền bù 100% theo giá quy định của UBND tỉnh tại thời điểm thu hồi đất.

      Phần diện tích còn lại 118 m2, việc bồi thường, hỗ trợ được áp dụng theo quy định tại điều 45 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP. Cụ thể:

      Diện tích đất đó phải được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đất đó không có tranh chấp thì việc bồi thường, hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định sau:

      + Nếu hiện trạng tại thời điểm thu hồi đất, toàn bộ đất đang sử dụng là đất có nhà ở và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP, bà được bồi thường 100% về đất đối với phần diện tích đất ở trong hạn mức theo quy định tại quyết định số 28/2006/QĐ-UBND nhưng giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp (50% giá trị bồi thường đất). Phần diện tích vượt hạn mức theo quy định ( nếu có)i được bồi thường theo quy định về bồi thường đất nông nghiệp

      + Nếu hiện trạng tại thời điểm thu hồi đất, đất đang sử dụng là đất phi nông nghiệp (không phải là đất ở) và không thuộc một trong các trường hợp sử dụng đất quy định tại khoản 4 Điều 14 Nghị định 84/2007/NĐ-CP bà được bồi thường 100% về đất theo loại đất phi nông nghiệp (giá đất phi nông nghiệp bằng 60% giá đất ở có cùng vị trí) đối với phần diện tích trong hạn mức theo quy định tại quyết định 28/2006/QĐ-UBND nhưng giá trị bồi thường phải trừ đi tiền sử dụng đất phải nộp (50% giá trị bồi thường đất). Phần diện tích ngoài hạn mức (nếu có) được bồi thường theo quy định về đất nông nghiệp

      + Nếu hiện trạng tại thời điểm thu hồi đất, đất đang sử dụng thuộc nhóm đất nông nghiệp mà người đang sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp thì được bồi thường, hỗ trợ đối theo đất nông nghiệp.

      Trường hợp thứ hai: UBND xã Bình Nghĩa cấp cho bà 160 m2 nhưng bà mới chỉ nộp tiền 42 m2.

      Trường hợp này áp dụng việc bồi thường, hỗ trợ theo quy định tại điều 46 của Nghị định 84/2007/NĐ-CP.

      Bà được bồi thường 100% giá trị loại đất theo quyết định giao (đối với đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp (không phải đất ở). Bồi thường 100% giá trị đối với đất ở được giao trong hạn mức quy định tại quyết định số 28/2006/QĐ-UBND. Phần đất ở được giao ngoài hạn mức được bồi thường theo đất ở nhưng phải trừ đi 50% giá trị tiền sử dụng đất phải nộp

      Hiện nay việc bồi thường hỗ trợ về đất thực hiện theo quy định tại quyết định số 30/2009/QĐ-UBND ngày 26/10/2009 của UBND tỉnh

      2. Đối với tài sản:

      Tài sản của bà xây dựng trên đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại các khoản 1,2,3,4,5,7,9,10,11 của điều 8 Nghị định 197/2004/NĐ-CP nên bà chỉ được hỗ trợ theo quy định tại điểm 4, mục I, phần II bảng đơn giá năm 2012 bồi thường thường nhà, vật kiến trúc và di chuyển mồ mả khi nhà nước thu hồi đất kèm theo quyết định số 33/2011/QĐ-UBND ngày 30/12/2011 của UBND tỉnh, cụ thể như sau:

      - Nếu xây dựng trước 1/7/2004 nhưng tại thời điểm xây dựng chưa có quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc xây dựng phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, không vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã cắm mốc: mức hỗ trợ là 80% mức bồi thường

      - Nếu xây dựng trước 1/7/2004 nhưng tại thời điểm xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, vi phạm hành lang bảo vệ công trình đã cắm mốc: mức hỗ trợ là 60% mức bồi thường.

      3. Trách nhiệm của người sử dụng đất, UBND cấp xã trong việc cấp GCNQSD đất cho người sử dụng đất

      a) Đối với người sử dụng đất: Phải có trách nhiệm kê khai đăng ký quyền sử dụng đất và nộp các giấy tờ liên quan đến quyền sử dụng đất cho UBND cấp xã khi có thông báo

      b) UBND xã

      UBND cấp xã có trách nhiệm thông báo cho các chủ sử dụng đất đang sử dụng đất trên địa bàn kê khai đăng ký quyền sử dụng đất khi có chủ trương của UBND huyện, UBND tỉnh. Năm 2003, UBND tỉnh Hà Nam có kế hoạch số 566/KH-UB ngày 5/8/2003 về việc xử lý các trường hợp vi phạm sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các chủ sử dụng đất trên địa bàn toàn tỉnh. Kế hoạch 566/KH-UB của UBND tỉnh đến năm 2009 cơ bản thực hiện xong. UBND xã Bình Nghĩa có trách nhiệm thông báo cho các hộ sử dụng đất kê khai đăng ký quyền sử dụng đất, đồng thời xây dựng phương án xử lý các trường hợp vi phạm trình UBND huyện Bình Lục phê duyệt.

      Trường hợp của bà thuộc trường hợp đất được giao không đúng thẩm quyền, sử dụng từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 nên thuộc trường hợp phải xây dựng phương án xử lý vi phạm.

      Bà sẽ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nếu tại thời điểm sử dụng đất không vi phạm khoản 4 điều 14 Nghi định số 84/2007 ( trừ trường hợp vi phạm khoản 4 điều 14 nghị định số 84/2007/NĐ-CP nhưng tại thời điểm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với quy hoạch), cụ thể như sau:

      - Vi phạm quy hoạch chi tiết xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai;

      - Vi phạm quy hoạch chi tiết mặt bằng xây dựng đã được cơ quan có thẩm quyền xét duyệt và công khai đối với diện tích đất đã giao cho tổ chức, cộng đồng dân cư quản lý;

      - Lấn, chiếm hành lang bảo vệ an toàn công trình công cộng đã được công bố, cắm mốc;

      - Lấn, chiếm lòng đường, lề đường, vỉa hè đã có chỉ giới xây dựng;

      - Lấn, chiếm đất sử dụng cho mục đích công cộng, đất chuyên dùng, đất của tổ chức, đất chưa sử dụng và các trường hợp vi phạm khác đã có văn bản ngăn chặn nhưng người sử dụng đất vẫn cố tình vi phạm.

      Để được biết chi tiết, bà có thể liên hệ trực tiếp với Ban giải phóng mặt bằng hoặc phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Bình Lục để được rõ


    Nguồn:

    Cổng thông tin điện tử Tỉnh Hà Nam
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn