Căn cứ công nhận diện tích đất ở hình thành trước năm 1975

Ngày hỏi:24/05/2019

Tôi có mảnh đất được cấp trước năm 1975 với mục đích dùng để ở có kê khai trong bảng tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND xã lập theo Chỉ thị số 299-TTg năm 1980. Trên mảnh đất của tôi có ao từ lâu đời. Nay tôi muốn đo vẽ lại diện tích và làm sổ mới. Xin hỏi, diện tích đất của tôi sẽ được xác định ra sao? Và nếu được cấp sổ mới thì diện tích đất của tôi có được công nhận toàn bộ là đất ở hay không?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định tại Khoản 2 Điều 103 Luật Đất đai 2013 quy định, thửa đất ở có vườn ao được hình thành trước ngày 18/12/1980 và người sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật này thì diện tích đất ở được xác định theo giấy tờ đó.

      Khoản 2, Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định: loại giấy tờ làm căn cứ xác định diện tích đất ở theo quy định tại các Khoản 2, 3 và 4 Điều 103 của Luật Đất đai là giấy tờ có thể hiện một hoặc nhiều mục đích nhưng trong đó có mục đích để làm nhà ở, đất ở hoặc thổ cư.

      Mặc khác, theo Điểm b Khoản 2 Điều 18 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, bảng tổng hợp các trường hợp sử dụng đất hợp pháp do UBND xã lập theo Chỉ thị 299-TTg năm 1980 là giấy tờ khác tại Điểm g Khoản 1 Điều 100 Luật đất đai 2013.

      Như vậy, diện tích đất được xác định trong trường hợp của ông được xác định theo bảng tổng hợp các trường hợp sử dụng đất do UBND xã lập theo Chị thị 299-TTg năm 1980.

      Về việc diện tích đất của ông có được công nhận là 100% đất ở hay không thì ông có thể tham khảo theo quy định tại Khoản 2, 3 Điều 24 Nghị định 43/2014/NĐ-CP, cụ thể:

      - Trường hợp thửa đất có vườn, ao gắn liền với nhà ở được hình thành trước ngày 18 tháng 12 năm 1980, người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 3 Điều 100 của Luật Đất đai và Điều 18 của Nghị định này mà trong giấy tờ đó chưa xác định rõ diện tích đất ở thì diện tích đất ở được công nhận không phải nộp tiền sử dụng đất bằng diện tích thực tế của thửa đất đối với trường hợp diện tích thửa đất nhỏ hơn 05 lần hạn mức giao đất ở, bằng 05 lần hạn mức giao đất ở đối với trường hợp diện tích thửa đất lớn hơn 05 lần hạn mức giao đất ở theo quy định của Luật Đất đai.

      - Phần diện tích đất còn lại sau khi đã xác định diện tích đất ở quy định tại Điều 103 của Luật Đất đai và Khoản 3 Điều này, hiện đang là vườn, ao mà người sử dụng đất đề nghị được công nhận là đất ở hoặc đất phi nông nghiệp khác thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo mục đích đó và phải thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

      Trên đây là nội dung tư vấn.


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn