Cấp GCNQSDĐ sai có được trả lại tiền sử dụng đất không?

Ngày hỏi:23/11/2019

Ông X là Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Y. Năm 2010 ông có tham mưu Quyết định giao đất có thu tiền sử dụng đất cho bà B (là đối tượng chính sách có được giảm tiền sử dụng đất) với số tiền thu từ sử dụng đất là 200 triệu đồng. Mảnh đất được giao được đề xuất bởi UBND phường (UBND phường xác nhận là đất trống thuộc quản lý của nhà nước), do không có hồ sơ lưu tại phòng Tài nguyên Môi trường huyện Y nên cán bộ phòng TN&MT nơi ông X không thực hiện đối chiếu tình hình quản lý sử dụng lô đất đó. sau đó đã tham mưu cho ông X tờ trình đề nghị UBND huyện Y ra quyết định giao đất có thu tiền sử dụng đất cho bà B. Đến năm 2017 bà B bán lô đất cho bà C với giá 400 triệu đồng, khi Bà C thực hiện xây nhà thì xuất hiện Bà D ra tranh chấp vì lô đất đó đã được cấp cho bà năm 1998 (Có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất kèm theo). Sau khi có tranh chấp bà B đã chấp nhận trả lại tiền cho bà C. và đề nghị UBND huyện Y bồi thường số tiền 200 triệu đã nộp cộng với tiền lãi suất đáng được hưởng từ năm 2010 đến nay. Vậy việc xác định giá trị bồi thường 200 triệu đồng và lãi suất trả cho bà B có đúng theo các quy định hiện hành. Trách nhiệm bồi thường này sẽ thuộc về ai (nhà nước hay các cá nhân công chức liên quan đến việc cấp sai. Vì số tiền nộp vào nhà nước không vào cá nhân nào cả. Nếu quy định chia cho các cá nhân thì chia như thế nào, vì quá trình giao đất liên quan tới nhiều cán bộ công chức: Công chức cấp xã tham mưu, Chủ tịch UBND xã, Công chức thuộc phòng TN&MT huyện Y, Trưởng phòng, phó phòng tham mưu, Văn phòng UBND huyện xét duyệt, Phó chủ tịch UBND huyện ký). Rất mong được sự tư vấn trả lời.

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo Khoản 2 Điều 106 Luật đất đai 2013 quy định trường hợp cấp GCNQSDĐ sai đối tượng sử dụng đất không đúng đối tượng sử dụng đất, không đủ điều kiện được cấp sẽ bị thu hồi theo quy định của pháp luật.

      Mặt khác, theo Điều 17 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 quy định phạm vi bồi thường của nhà nước như sau:

      "1. Ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trái pháp luật;

      2. Áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính trái pháp luật;

      3. Áp dụng một trong các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính sau đây trái pháp luật:
      ..."

      Như vậy, UBND huyện Y đã giao đất cho bà B là trái quy định của pháp luật, vậy nên nhà nước có trách nhiệm bồi thường cho bà B với những thiệt hại thực tế xảy ra,

      Theo Khoản 4 Điều 23 Luật trách nhiệm bồi thường của nhà nước 2017 quy định xác định thiệt hại đối với khoản tiền nộp vào ngân sách nhà nước như sau:

      - Trường hợp các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các khoản tiền bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền thì phải hoàn trả các khoản tiền đó và khoản lãi cho người bị thiệt hại.

      - Trường hợp các khoản tiền đó là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính là khoản lãi vay hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự.

      - Trường hợp các khoản tiền đó không phải là khoản vay có lãi thì khoản lãi được tính theo lãi suất phát sinh do chậm trả tiền trong trường hợp không có thỏa thuận theo quy định của Bộ luật Dân sự tại thời điểm quy định tại khoản 2 Điều 22 của Luật này.

      Như vậy, khi có quyết định bồi thường nhà nước với hành vi đó thì nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả các khoản tiền (200 triệu) đã thu từ sử dụng đất và số lãi phát sinh cho bà B.

      Ban biên tập phản hồi đến bạn.


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn