Cha mẹ có cần sự đồng ý của các con khi ủy quyền cho người khác thế chấp đất đai?

Ngày hỏi:30/07/2019

Gia đình tôi có 6 anh em, cha mẹ tôi có đứng tên sở hữu 3 căn nhà ở Thành Phố Hồ Chí Minh.

Cha mẹ tôi có làm giấy ủy quyền cho anh trai tôi (là người con đầu) cho phép dùng 1 trong 3 căn nhà mà cha mẹ tôi đứng tên đem đi thế chấp ngân hàng vay tiền, sự việc đã xảy ra rồi và tầm 1 năm sau 5 anh em (5 người con còn lại) tôi mới biết chuyên.

Vậy việc cha mẹ tôi ủy quyền cho người con trai đầu dùng căn nhà của cha mẹ tôi đứng tên đem thế chấp ngân hàng vay tiền, mà không thông qua ý kiến của 4 người con còn lại là đúng pháp luật không. 4 người anh em chúng tôi không hề hay biết chuyện này cho đến 1 năm sau mới biết.

Rất mong nhận được hồi âm từ phía luật sư

 

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Căn cứ pháp lý.

      - Luật đất đai năm 2013.

      - Bộ Luật dân sự năm 2015

      Theo khoản 16 điều 13 Luật đất đai 2013 thì:

      - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.

      Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên của cha mẹ bạn nên họ có quyền sở hữu đối với 2 ngôi nhà đó.

      Theo quy định của Bộ luật dân sự 2015 :

      - Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật.

      Như vậy, cha mẹ bạn có quyền định đoạt mảnh đất đó, cha mẹ bạn muốn ủy quyền, chuyển nhượng, tặng cho…Đó là quyền của bố mẹ bạn và không cần có sự đồng ý của những người con trong gia đình. Những người con trong gia đình nếu là đồng sở hữu đối với 2 ngôi nhà này thì khi bố mẹ bạn làm ủy quyền nhà cho anh trai cả thì mới cần đến sự đồng ý của những người con này.

      Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn