Chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn

Năm 2002, anh Quang được Nhà nước giao một thửa đất có diện tích 2500m2 với hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất. Anh Quang đã sử dụng thửa đất nêu trên để làm trang trại trồng cây ăn quả và nuôi cá. Hàng năm anh thực hiện đầy đủ việc nộp thuế liên quan đến thửa đất được giao theo quy định của pháp luật. Tháng 8 năm 2006, do cần thêm vốn để đầu tư phát triển trang trại của mình, anh quyết định thế chấp quyền sử dụng đất trang trại nêu trên để vay vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện. Anh cùng cán bộ tín dụng của Ngân hàng làm hợp đồng vay vốn có thế chấp tài sản theo mẫu của Ngân hàng rồi đến Uỷ ban nhân dân xã nơi có trang trại của anh Quang để yêu cầu chứng thực. Nghe anh Quang trình bày yêu cầu chứng thực, cán bộ tư pháp rất phân vân chưa biết giải quyết thế nào cho đúng pháp luật?

    Nội dung này được Cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật tư vấn như sau:

    • Đây là trường hợp một cá nhân sử dụng đất muốn thế chấp quyền sử dụng đất của mình để vay vốn ngân hàng. Đáng lưu ý trong trường hợp này nguồn gốc sử dụng đất là do Nhà nước giao và hàng năm người sử dụng đất thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước liên quan đến thửa đất được giao theo quy định của pháp luật. Giải quyết tình huống này, cán bộ tư pháp cần quan tâm đến những vấn đề sau:
      Thứ nhất, anh Quang có được thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn hay không?
      Theo quy định của Điều 113 Luật Đất đai năm 2003, thì cá nhân sử dụng đất không phải đất thuê có quyền thế chấp quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn sản xuất, kinh doanh. Như vậy trong trường hợp này, anh Quang là người được Nhà nước giao đất mà nguồn gốc sử dụng đất của anh Quang là giao đất có thu tiền sử dụng đất (không phải thuê đất) nên anh Quang được quyền thế chấp quyền sử dụng đất.
      Thứ hai, Uỷ ban nhân dân xã có thẩm quyền chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn không?
      Theo quy định của Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 thì hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp thế chấp bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Như vậy, anh Quang thuộc trường hợp được thế chấp bằng quyền sử dụng đất và anh được quyền lựa chọn hình thức công chứng tại Phòng Công chứng hoặc chứng thực hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất tại Uỷ ban nhân dân xã. Trong trường hợp anh Quang và tổ chức tín dụng lựa chọn hình thức chứng thực thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết yêu cầu đó.
      Về thủ tục
      Cán bộ tư pháp - hộ tịch của Uỷ ban nhân dân cấp xã đề nghị các bên giao kết hợp đồng là anh Quang (bên thế chấp) và người đại diện của tổ chức tín dụng (bên nhận thế chấp) nộp hồ sơ yêu cầu chứng thực, gồm có các loại giấy tờ sau:
      - Phiếu yêu cầu chứng thực (ghi theo mẫu tại Uỷ ban nhân dân xã);
      - Bản sao Giấy chứng minh nhân dân của anh Quang và người đại diện của tổ chức tín dụng, giấy tờ chứng minh thẩm quyền đại diện của người đại diện đó;
      - Bản sao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh Quang đối với thửa đất thế chấp;
      - Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà các bên đã soạn thảo sẵn hợp đồng.
      (Đối với các giấy tờ đã nộp bản sao nêu trên, cán bộ tư pháp - hộ tịch phải yêu cầu các bên giao kết hợp đồng xuất trình bản chính để đối chiếu).
      Về trình tự thực hiện chứng thực
      Sau khi nhận hồ sơ cán bộ tư pháp - hộ tịch ghi vào Sổ chứng thực hợp đồng, giao dịch, và thực hiện các việc sau:
      - Xác định năng lực hành vi dân sự của các bên giao kết hợp đồng;
      - Xem xét nội dung của hợp đồng đã được soạn thảo sẵn, trong trường hợp nội dung hợp đồng được soạn thảo sẵn vi phạm điều cấm của pháp luật, trái đạo đức xã hội hoặc soạn thảo không đạt yêu cầu thì phải sửa đổi, bổ sung;
      - Đọc lại hợp đồng cho các bên giao kết nghe hoặc yêu cầu các bên giao kết tự đọc lại hợp đồng trong trường hợp hợp đồng được sửa đổi, bổ sung;
      - Yêu cầu các bên ký tắt vào từng trang của hợp đồng, trừ trang cuối phải ký đầy đủ;
      - Ghi lời chứng và trình Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân phường ký chứng thực.


    Nguồn:

    CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn