Chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng không cung cấp giấy chứng nhận

Tôi đã được ông Lý Đình Hoàn thỏa thuận bán đất cho tôi năm 2001. Cơ quan có thẩm quyền lập biên bản giao đất cho tôi va tôi đã trả đủ tiền. Nhưng từ đó đến nay vợ chồng ông Hoàn không cung sổ bìa đỏ cho tôi tách thửa thì tôi phải làm thế nào?

    Nội dung này được Cơ sở dữ liệu Quốc gia về văn bản pháp luật tư vấn như sau:

    • Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên chuyển nhượng quyền sử dụng đất chuyển giao đất và quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng, còn bên nhận chuyển nhượng trả tiền cho bên chuyển nhượng theo quy định của Bộ luật Dân sự và pháp luật về đất đai. Khi giao kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông Lý Đình Hoàn với tư cách là bên chuyển nhượng có nghĩa vụ theo quy định tại Điều 699 Bộ luật Dân sự:

      - Chuyển giao đất cho bên nhận chuyển nhượng đủ diện tích, đúng hạng đất, loại đất, vị trí, số hiệu và tình trạng đất như đã thỏa thuận;

      - Giao giấy tờ có liên quan đến quyền sử dụng đất cho bên nhận chuyển nhượng.

      Theo quy định trên, bác có quyền yêu cầu ông Hoàn cung cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để tiến hành đăng ký sang tên quyền sử dụng đất. Trong trường hợp, ông Hoàn cố tình không giao (vi phạm việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng), bác có quyền khởi kiện tới tòa án có thẩm quyền để được giải quyết.

      Khi khởi kiện, bác phải làm đơn khởi kiện. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính theo quy định tại Điều 164 Bộ luật Tố tụng dân sự:

      - Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

      - Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

      - Tên, địa chỉ của người khởi kiện;

      - Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;

      - Tên, địa chỉ của người bị kiện;

      - Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;

      - Những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

      - Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.

      Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.

      Bác có thể gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo đến Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án bằng các phương thức sau đây:

      - Nộp trực tiếp tại Toà án;

      - Gửi đến Toà án qua bưu điện.


    Nguồn:

    CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn