Khởi kiện đòi lại vườn

Ngày hỏi:11/07/2012

Hiện nay em được thừa kế lại từ Bố em một mảnh vườn nho nhỏ, nhưng mảnh vườn nhà em đã bị hàng xóm lấn chiếm và sử dụng từ nhiều năm nay. Cụ thể năm 1998 bố em mất đi lúc đó không để lại di chúc gì hết, qua năm tháng thì em lớn nên và lập gia đình nên ra ở riêng, lúc ra ở riêng Mẹ em và anh trai có đồng ý cho em thừa kế lại mảnh đất và nhà mà Bố em được phân. Sau khi làm thủ tục xong hết thì gia đình em mới nhớ ra là quên còn mảnh vườn trước cửa. Mảnh vườn đó thì nhà em chưa có GCNQSDĐ, nhưng trên bản đồ địa chính và trên sổ đăng ký sử dụng ruộng đất thì có đăng ký tên bố em. Nhưng do qua trình năm tháng nhà em không sử dụng nên đã bị hàng xóm rất tốt ở kế bên lấn chiềm xây dựng chuồng lợn. Nay khi đến ở em có đòi lại nhưng họ không trả mà bảo là của họ khai hoang, em đã làm đơn lên UBND Phường nơi nhà em có mảnh đất đó để khiếu nại, nhưng khi cán bộ địa chính phường xuống cũng không giải quyết được mà còn nói với em là phải mang giấy tờ chứng minh mảnh đất đó là của nhà em ra thì họ mới giải quyết được. Vậy luật sư có thể tư vấn giúp em là trong trường hợp này em nên làm như thế nào. Và có thể đâm đơn khởi kiện để đòi lại mảnh vườn của gia đình mình không?

    • Trường hợp bạn hỏi, Luật đất đai năm 2003 quy định như sau:

      "Điều 135. Hoà giải tranh chấp đất đai

      1. Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hoà giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hoà giải ở cơ sở.

      2. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hoà giải được thì gửi đơn đến Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp.

      Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn có trách nhiệm phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác để hoà giải tranh chấp đất đai.

      Thời hạn hoà giải là ba mươi ngày làm việc, kể từ ngày Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nhận được đơn.

      Kết quả hoà giải tranh chấp đất đai phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên tranh chấp và xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất. Trường hợp kết quả hoà giải khác với hiện trạng sử dụng đất thì Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn chuyển kết quả hoà giải đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để giải quyết theo quy định về quản lý đất đai.

      Điều 136. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai

      Tranh chấp đất đai đã được hoà giải tại Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn mà một bên hoặc các bên đương sự không nhất trí thì được giải quyết như sau:

      1. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất thì do Toà án nhân dân giải quyết;

      2. Tranh chấp về quyền sử dụng đất mà đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc không có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật này được giải quyết như sau:

      a) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết; quyết định của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là quyết định giải quyết cuối cùng;

      b) Trường hợp Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương giải quyết lần đầu mà một bên hoặc các bên đương sự không đồng ý với quyết định giải quyết thì có quyền khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường; quyết định của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường là quyết định giải quyết cuối cùng.".

      Như vậy, thẩm quyền hòa giải tranh chấp đất đai thuộc về UBND cấp xã, nơi có đất. Bạn cần có đơn đề nghị hòa giải, trình bày rõ nguồn gốc đất, cung cấp thông tin địa chỉ về thửa đất và người chiếm đất của gia đình bạn, gửi kèm theo bản sao CMND, hộ khẩu của gia đình bạn là UBND xã phải thụ lý để hòa giải giữa các bên. Nếu hòa giải không thành thì bạn có thể gửi đơn tới UBND hoặc Tòa án theo quy định tại Điều 136 Luật đất đai để được xem xét giải quyết.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn