Quy định về tài sản chung của hai vợ chồng được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân

Ngày hỏi:13/01/2017

Quy định về tài sản chung của hai vợ chồng được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân. Chúng tôi kết hôn năm 2005 nay đã ly hôn. Trong quyết định ly hôn của Tòa án tháng 12.2016 có ghi: “Về tài sản chung hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết”. Tài sản chung của chúng tôi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2014 mang tên: Hộ ông: Hoàng Sơn Hải. (Nguồn gốc đất là do bố mẹ đẻ tôi cho, tặng riêng tôi và tôi có 2 con 1 đứa lớn 12 tuổi và 1 đứa nhỏ 6 tuổi). Vậy cho tôi hỏi là tôi có phải chia phần cho vợ và các con tôi không? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo như bạn trình bày thì gia đình bạn có một mảnh đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2014, trên giấy chứng nhận thể hiện thông tin “Hộ ông: Hoàng Sơn Hải”. Theo Điểm b Khoản 2 Điều 15 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT quy định như sau:

      Dữ liệu tên người sử dụng đất, tên chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, tên người quản lý đất được xác định và thể hiện theo quy định như sau:

      Đối với hộ gia đình sử dụng đất thể hiện các thông tin “Hộ ông” (hoặc “Hộ bà”), sau đó ghi họ tên, năm sinh, tên và số giấy tờ nhân thân của chủ hộ gia đình như quy định tại Điểm a khoản này; địa chỉ thường trú của hộ gia đình. Trường hợp chủ hộ gia đình không có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi người đại diện là thành viên khác của hộ gia đình và cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình.

      Trường hợp chủ hộ gia đình hoặc người đại diện khác của hộ gia đình có vợ hoặc chồng cùng có quyền sử dụng đất chung của hộ gia đình thì ghi cả họ tên, năm sinh của người vợ hoặc chồng đó.

      Trường hợp của bạn việc thể hiện “Hộ ông” như vậy là cấp cho hộ gia đình nên mảnh đất đó trở thành tài sản chung của cả hộ theo quy định tại Điều 108 Bộ luật dân sự 2015 như sau:

      Tài sản chung của hộ gia đình gồm quyền sử dụng đất, quyền sử dụng rừng, rừng trồng của hộ gia đình, tài sản do các thành viên đóng góp, cùng nhau tạo lập nên hoặc được tặng cho chung, được thừa kế chung và các tài sản khác mà các thành viên thoả thuận là tài sản chung của hộ.

      Theo đó, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt phải được các đồng sở hữu thỏa thuận. Vì trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ghi “hộ ông” nên đất đó không phải là đất riêng của bạn mà mảnh đất này thuộc sở hữu chung của gia đình bạn nên sẽ được chia làm 4 phần: bạn, vợ bạn và 2 con bạn.

      Theo thông tin bạn cung cấp thì bố mẹ bạn tặng riêng cho bạn nhưng trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại thể hiện “hộ ông”. Do vậy, trường hợp này bạn phải có cơ sở chứng minh mảnh đất này là do bố mẹ bạn tặng cho riêng bạn. Chứng minh việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thời điểm đó là trái với quy định của pháp luật. Bạn cần phải chuẩn bị những giấy tờ để có cơ sở điều chỉnh lại quyền sử dụng đất thuộc sở hữu của bạn:

      - Hợp đồng tặng cho đất của bố mẹ bạn cho riêng bạn;

      - Hồ sơ địa chính trích lục tại Ủy ban nhân dân xã;

      - Những giấy tờ tài liệu liên quan khác.

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về tài sản chung của hai vợ chồng được tặng cho trong thời kỳ hôn nhân. Bạn nên tham khảo chi tiết Thông tư 24/2014/TT-BTNMT để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn