Về lĩnh vực đất đai, thuế xây dựng

Ngày hỏi:02/04/2015
Kính gửi: Cổng GTĐT TP Hà Nội Xin hỏi quý cơ quan một số nội dung sau: 1. Tại sao Quyết định 96/2014/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội lại quy định: Các thửa đất của chủ sử dụng đất tại vị trí 2, vị trí 3, vị trí 4 của Bảng số 5 (đất ở, đất thương mại, dịch vụ và đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp ở đô thị),…cách hè đường, phố (theo chiều sâu của ngõ) đến 1000m thì được giảm giá 20% so với giá đất quy định còn cách hè đường, phố trên 1000 m lại không quy định giảm phần trăm giá đất mà lại áp dụng bảng giá đất khu dân cư nông thôn tại Bảng số 9 (Việc áp dụng cụ thể nội dung này như thế nào, đề nghị quý cơ quan cho ví dụ để chứng minh). 2. Trường hợp một thửa đất trên địa bàn thành phố Hà Nội có diện tích nhà ở và các công trình phục vụ đời sống lớn hơn hạn mức công nhận đất ở và nhiều hộ gia đình cùng sử dụng thửa đất đó theo QĐ 24/2014 của UBND thành phố Hà Nội thì việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và công nhận diện tích đất ở trường hợp này giải quyết thế nào? 3. Hiện nay Thuế Xây dựng nhà ở riêng lẻ của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn quận Hà Đông được thu theo quy định nào? Chủ đầu tư có phải là đối tượng nộp thuế? Xin trân trọng cảm ơn! Người hỏi: Văn Thuấn ( 14:46 02/04/2015)

    Nội dung này được Ủy ban Nhân dân Tp.Hà Nội, Cổng thông tin điện tử tư vấn như sau:

    • 1.Tại điểm 1, Điều 2, Quyết định 96/2014/QĐ-UB của UBND thành phố Hà Nội đã quy định rõ nguyên tắc cụ thể khi định giá đất như sau:
      Căn cứ vào khả năng sinh lời, khoảng cách tới đường giao thông, đường phố và điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi cho sinh hoạt, kinh doanh và cung cấp dịch vụ, các vị trí được xác định theo nguyên tắc: vị trí 1 tiếp giáp trục đường giao thông có tên trong bảng giá có khả năng sinh lợi và điều kiện cơ sở hạ tầng thuận lợi hơn các vị trí tiếp theo, các vị trí 2, 3, 4 theo thứ tự khả năng sinh lợi và điều kiện cơ sở hạ tầng kém thuận lợi hơn.
      2.Tại điểm a, b, c, Điều 18, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 24/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà Nội đã quy định rõ việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất có nhà ở và thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lơn hơn hạn mức công nhận đất ở như sau:
      a) Đối với thửa đất có nhà ở thì được công nhận quyền sử dụng đất ở theo hạn mức quy định tại Quyết định số 22/2014/QĐ-UBND ngày 20/6/2014 của UBND thành phố Hà Nội
      b) Đối với thửa đất có công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì công nhận đất cơ sở sản xuất phi nông nghiệp, đất thương mại, dịch vụ theo diện tích thực tế đã xây dựng công trình đó; hình thức sử dụng đất được công nhận như hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất là ổn định lâu dài;
      c) Đối với thửa đất có cả nhà ở và công trình xây dựng để sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp mà diện tích thửa đất lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được công nhận theo quy định tại điểm a khoản này; phần diện tích còn lại đã xây dựng công trình sản xuất, thương mại, dịch vụ phi nông nghiệp thì được công nhận theo quy định tại điểm b khoản này.
      3. Liên quan đến vấn đề nộp thuế, mời ông tham khảo một số quy định sau:
      - Theo Luật Thuế giá trị gia tăng (GTGT) thì đối tượng chịu thuế và người nộp thuế được quy định như sau:
      Điều 3. Đối tượng chịu thuế
      Hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng quy định tại Điều 5 của Luật này.
      Điều 4. Người nộp thuế
      Người nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là cơ sở kinh doanh) và tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa chịu thuế giá trị gia tăng (sau đây gọi là người nhập khẩu).
      Tại khoản g, Điều 7, Chương II đã quy định đối với hoạt động xây dựng, lắp đặt là giá trị công trình, hạng mục công trình hay phần công việc thực hiện bàn giao chưa có thuế giá trị gia tăng. Trường hợp xây dựng, lắp đặt không bao thầu nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị thì giá tính thuế là giá trị xây dựng, lắp đặt không bao gồm giá trị nguyên vật liệu và máy móc, thiết bị;
      Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) thì đối tượng nộp thuế TNDN là là tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của Luật này
      Căn cứ Công văn số 3700-TCT/DNK ngày 11/11/2004 của Tổng cục thuế về việc thu thuế đối với hoạt động xây dựng nhà ở tư nhân; trong đó nêu rõ tổ chức, cá nhân có hoạt động xây dựng là đối tượng phải đăng ký, kê khai nộp thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ quan thuế địa phương nơi đăng ký kinh doanh hoặc nơi thực hiện xây dựng công trình
      Nhằm thực hiện thu thuế GTGT, thuế TNDN đúng quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật. Tổng cục thuế yêu cầu Cục thuế các địa phương tăng cường biện pháp quản lý, phối hợp với các ngành chức năng liên quan và chính quyền địa phương có biện pháp xử lý kiên quyết đối với các đối tượng nhận thầu xây dựng không đăng ký kê khai nộp thuế, nhằm thu đầy đủ thuế theo Luật định đối với hoạt động xây dựng nhà tư nhân, thay vì áp dụng biện pháp thu thuế chủ hộ nộp thay chủ thầu xây dựng. Tổng cục thuế sẽ báo cáo Bộ Tài chính nghiên cứu trình cấp có thẩm quyền quy định trong việc quản lý thuế phù hợp với thông lệ quốc tế theo hướng thực hiện khấu trừ trước khi chủ hộ chi trả thanh toán
      Công văn 3381/TCT-CS của Tổng cục Thuế về việc truy thu thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp của tổ chức, cá nhân người nhận thầu xây dựng nhà đã quy định như sau:
      Tổ chức, cá nhân nhận thầu xây dựng nhà (bên nhận thầu xây dựng) cho các hộ gia đình là người nộp thuế. Bên nhận thầu xây dựng có nghĩa vụ phải đăng ký, kê khai và nộp thuế GTGT, thuế TNDN với cơ quan thuế địa phương nơi có trụ sở kinh doanh (nếu tổ chức, cá nhân là cơ sở có hoạt động kinh doanh thường xuyên) hoặc nơi thực hiện xây dựng công trình (nếu tổ chức, cá nhân không có hoạt động kinh doanh thường xuyên hoặc có trụ sở kinh doanh ở một địa phương nhưng nhận thầu xây dựng công trình tại địa phương khác tỉnh, thành phố).
      - Trường hợp cơ quan thuế thực hiện kiểm tra và có đủ cơ sở xác định tổ chức, cá nhân nhận thầu xây dựng nhà ở của các hộ gia đình không thực hiện đăng ký kê khai, nộp thuế đối với hoạt động nhận thầu xây dựng thì cơ quan thuế có quyền truy thu đủ số thuế GTGT và thuế TNDN theo các quy định trên. Hộ gia đình chỉ là người đi thuê xây dựng nhà ở, không phải là bên nhận thầu xây dựng nên không phải là người nộp thuế vì vậy không thực hiện truy thu thuế đối với hộ gia đình.


    Nguồn:

    Cổng Giao tiếp điện tử Hà Nội
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn