Về Việc Tranh Chấp Đất Đai và Việc Bồi Thường Giải Phóng Mặt Bằng

Ngày hỏi:26/06/2012

Thứ 1 : Về việc tranh chấp đất đai Vào năm 1989,Bác thứ 4 của cháu có bán lại miếng đất kế bên nhà rộng khoảng 32 m2,cho một người Bác thứ 8 với số tiền là 100.000 ngàn đồng,nhưng vì không có đủ tiền trả (chỉ trả được một nửa), nên cùng năm đó Bác thứ 8 đã bán lại miếng đất đó cho gia đình cháu, vậy gia đình cháu chỉ cần trả một nửa số tiền còn lại cho Bác 4 cháu là đủ, nhưng vì lý do là anh em ruột, nên ba cháu và bác 4 không làm giấy mua bán (kể cả giấy viết tay cũng không),vì trước đó đã không có giấy mua bán,nên mãi về sau này,gia đình cháu không thể làm được các giấy tờ liên quan khác như: Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất, Giấy Chứng Nhận Quyền Sở Hữu Nhà,và vì không có các giấy tờ trên nên việc làm Hộ Khẩu,giấy CMND cũng gặp không ít khó khăn.    Đến năm 2003, thì bác 4 cháu qua đời (là người trực tiếp mua bán với gia đình cháu),gia đình bác 4 cháu và gia đình cháu phát sinh việc tranh chấp đất đai (là miếng đất cháu đang ở), giờ cháu muốn có giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất thì xin Luật Sư tư vấn,cháu cần phải làm như thế nào? và cần phải đến cơ quan(đơn vị) nào để trình bày - làm các giấy tờ cần thiết. Thứ 2 : Về Việc Bồi Thường Đất Đai Do Giải Phóng Mặt Bằng    Như cháu đã trình bày ở trên,do nhà cháu chưa có các giấy tờ cần thiết,nên cách đây không lâu nơi cháu ở có chuẩn bị thi công đoạn đường mở rộng,và quyết định giải phóng mặt bằng trước nhà cháu,và bên hông nhà (vì nhà cháu có 2 mặt tiền),vậy cho cháu xin hỏi,Gia đình cháu không có Giấy CN QSDD thì có được bồi thường theo luật của Nhà Nước không ? (thông tin thêm là gia đình cháu đã ở đó từ năm 1989 đến nay 2012) 

  • 1. TRANH CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT:

    Vụ việc của gia đình bạn đang có tranh chấp. Do vậy, gia đình bạn phải giải quyết xong tranh chấp thì mới được chính quyền xem xét cấp GCN QSD đất. Nếu khi bán cho bác 8, bác 4 đã có một trong các lại giấy tờ quy định tại khoản 1, khoản 2, hoặc khoản 5, Điều 50 Luật đất đai. Sau khi mua đất, gia đình bạn đã trồng cây lâu năm hoặc xây nhà kiên cố mà chính quyền không xử phạt, bác bạn không có ý kiến gì thì Tòa án có thể căn cứ vào các quy định tại Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 để công nhận hợp đồng chuyển nhượng giữa các bên. Nếu không đủ điều kiện công nhận hợp đồng thì Tòa án sẽ tuyên bố hợp đồng vô hiệu và giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu theo quy định tại Điều 137 BLDS.

    2. BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ:

    Nếu gia đình bạn đủ điều kiện được công nhận quyền sử dụng đất và không có tranh chấp thì mới được bồi thường về quyền sử dụng đất. Bạn tham khảo quy định tại Điều 3, Thông tư số 14/2009/TT-BTN&MT ngày 01/10/2009 cụ thể như sau:

    "Điều 3. Điều kiện để được bồi thường về đất

    Điều kiện để người đang sử dụng đất được bồi thường về đất thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 10 và 11 Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP và các Điều 44, 45 và 46 của Nghị định số 84/2007/NĐ-CP. Một số điểm tại khoản 3 Điều 8 của Nghị định số 197/2004/NĐ-CP được quy định cụ thể như sau:

    1. Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng, cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất và giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất quy định tại điểm c khoản 3 Điều 8 bao gồm:

    a) Giấy tờ thừa kế theo quy định của pháp luật;

    b) Giấy tờ tặng, cho nhà đất có công chứng hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) tại thời điểm tặng, cho;

    c) Giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất của cơ quan, tổ chức giao nhà.

    2. Giấy tờ về thanh lý, hóa giá nhà ở, mua nhà ở gắn liền với đất ở quy định tại điểm đ khoản 3 Điều 8, trường hợp này phải bảo đảm các điều kiện sau:

    a) Nhà thanh lý, hóa giá, nhà bán phải thuộc sở hữu nhà nước. Nhà thuộc sở hữu nhà nước gồm: nhà ở tiếp quản từ chế độ cũ, nhà vô chủ, nhà vắng chủ đã được xác lập sở hữu nhà nước; nhà ở tạo lập do ngân sách nhà nước đầu tư; nhà ở được tạo lập bằng tiền có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước; nhà ở được tạo lập bằng tiền theo phương thức nhà nước và nhân dân cùng làm; các nhà ở khác thuộc sở hữu nhà nước.

    b) Nhà được cơ quan, đơn vị hành chính sự nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân, tổ chức đoàn thể của Nhà nước và doanh nghiệp nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở, bán nhà ở gắn liền với đất ở thuộc sở hữu nhà nước trước ngày 05 tháng 7 năm 1994 hoặc giấy tờ bán nhà ở do tổ chức chuyên quản nhà ở bán theo quy định tại Nghị định số 61-CP ngày 05 tháng 7 năm 1994 của Chính phủ về mua bán và kinh doanh nhà ở.

    3. Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người đang sử dụng đất quy định tại điểm e khoản 3 Điều 8 bao gồm:

    a) Bằng khoán điền thổ;

    b) Văn tự đoạn mãi bất động sản (gồm nhà ở và đất ở) có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ;

    c) Văn tự mua bán nhà ở, tặng cho nhà ở, đổi nhà ở, thừa kế nhà ở mà gắn liền với đất ở có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ;

    d) Bản di chúc hoặc giấy thỏa thuận tương phân di sản về nhà ở được cơ quan thuộc chế độ cũ chứng nhận;

    đ) Giấy phép cho xây cất nhà ở hoặc giấy phép hợp thức hóa kiến trúc của cơ quan thuộc chế độ cũ cấp;

    e) Bản án của cơ quan Tòa án của chế độ cũ đã có hiệu lực thi hành;

    g) Các loại giấy tờ khác chứng minh việc tạo lập nhà ở, đất ở nay được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi có đất ở (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) công nhận."


Nguồn:

Theo Dân Luật
Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
Ý kiến bạn đọc
THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn