Công dân Việt Nam có được mang vũ khí từ nước ngoài vào Việt Nam hay không?

Ngày hỏi:30/10/2018

Xin cho tôi hỏi các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam được mang vũ khí, công cụ hỗ trợ ra, vào lãnh thổ Việt Nam hay không? Nếu có thì cụ thể là trong các trường hợp nào theo quy định pháp luật hiện hành? Xin cảm ơn đã giải đáp.

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định của pháp luật hiện hành thì vũ khí là thiết bị, phương tiện hoặc tổ hợp những phương tiện được chế tạo, sản xuất có khả năng gây sát thương, nguy hại cho tính mạng, sức khỏe của con người, phá hủy kết cấu vật chất, bao gồm: vũ khí quân dụng, súng săn, vũ khí thô sơ, vũ khí thể thao và vũ khí khác có tính năng, tác dụng tương tự. Pháp luật nước ta nghiêm cấm cá nhân sở hữu vũ khí, trừ vũ khí thô sơ là hiện vật để trưng bày, triển lãm, đồ gia bảo.

      Theo quy định tại Khoản 1 Điều 5 Luật Quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ 2017 thì việc mang trái phép vũ khí, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam) hoặc vào nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ và mục tiêu bảo vệ là hành vi vi phạm pháp luật và bị nghiêm cấm thực hiện.

      Do đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam không được mang trái phép vũ khí, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ nước Việt Nam hoặc vào nơi cấm, khu vực cấm, khu vực bảo vệ và mục tiêu bảo vệ.

      Theo quy định tại Khoản 2Luật Quản lý sử dụng vũ khí vật liệu nổ công cụ hỗ trợ 2017 thì cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam được mang vũ khí, công cụ hỗ trợ từ nước ngoài vào, ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong trường hợp sau đây:

      - Bảo vệ đối tượng cảnh vệ theo quy định của Luật Cảnh vệ;

      - Luyện tập, thi đấu thể thao; triển lãm, trưng bày, chào hàng, giới thiệu sản phẩm; làm đạo cụ trong hoạt động văn hóa, nghệ thuật;

      - Theo chương trình, kế hoạch của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

      Cơ quan, tổ chức, cá nhân được mang vũ khí, công cụ hỗ trợ vào, ra khỏi lãnh thổ Việt Nam không thuộc trường hợp trên đây thì phải được sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Công an.

      Trên đây là quan điểm tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn