Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi thay đổi nơi thường trú

Ngày hỏi:09/02/2017

Thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi thay đổi nơi thường trú. Cho em hỏi, chồng em quê ở Đaklak, trước hộ khẩu trên đó nên chồng em nhờ người làm giấy chứng nhận độc thân, cán bộ Tư pháp đã cấp giấy chứng nhận độc thân nhưng trên giấy có ghi là để sử dụng cho đi xin việc, giờ chồng em chuyển hộ khẩu xuống Bình Dương muốn xin lại giấy chứng nhận độc thân để kết hôn nhưng cán bộ ở đây lại không cấp mà bảo phải về trên Daklak xin lại, chồng về daklak ngươi ta lại bảo chuyển hộ khẩu xuống đây nên không cấp nữa, em thấy thủ tục sao mà rườm ra giờ không biết phải làm sao nên em nhờ Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn giúp e để e hoàn tất được hồ sơ ạ. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định tại Điều 21 Nghị định 123/2015/NĐ-CP về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân:

      "1. Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi thường trú của công dân Việt Nam thực hiện việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

      Trường hợp công dân Việt Nam không có nơi thường trú, nhưng có đăng ký tạm trú theo quy định của pháp luật về cư trú thì Ủy ban nhân dân cấp xã, nơi người đó đăng ký tạm trú cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

      2. Quy định tại Khoản 1 Điều này cũng được áp dụng để cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân nước ngoài và người không quốc tịch cư trú tại Việt Nam, nếu có yêu cầu."

      Có thể thấy, quy định pháp luật về cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chính là ủy ban nhân dân cấp xã nơi mà chồng bạn có hộ khẩu thường trú, chồng bạn đã chuyển hộ khẩu tới Bình Dương thì phải tới ủy ban nhân nhân tại Bình Dương để xin cấp. Về trình tự thủ tục bạn có thể thực hiện theo quy định tại Điều 22 Nghị định 123/2015/NĐ-CP:

      "1. Người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nộp Tờ khai theo mẫu quy định. Trường hợp yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân nhằm mục đích kết hôn thì người yêu cầu phải đáp ứng đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.

      2. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã có vợ hoặc chồng nhưng đã ly hôn hoặc người vợ hoặc chồng đã chết thì phải xuất trình hoặc nộp giấy tờ hợp lệ để chứng minh; nếu thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 37 của Nghị định này thì nộp bản sao trích lục hộ tịch tương ứng.

      3. Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra, xác minh tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu. Nếu người yêu cầu có đủ điều kiện, việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân là phù hợp quy định pháp luật thì công chức tư pháp - hộ tịch trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân ký cấp 01 bản Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho người có yêu cầu. Nội dung Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân phải ghi đúng tình trạng hôn nhân của người có yêu cầu và mục đích sử dụng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân.

      4. Trường hợp người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân đã từng đăng ký thường trú tại nhiều nơi khác nhau, người đó có trách nhiệm chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình. Trường hợp người đó không chứng minh được thì công chức tư pháp - hộ tịch báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đã từng đăng ký thường trú tiến hành kiểm tra, xác minh về tình trạng hôn nhân của người đó."

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về thẩm quyền cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân khi thay đổi nơi thường trú. Bạn nên tham khảo chi tiết Nghị định 123/2015/NĐ-CP để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn