Trách nhiệm phối hợp của các cơ quan cấp xã trong việc công nhận Làng sức khoẻ

Sau khi được bầu làm trưởng làng thuộc xã miền núi, ông Vàng Văn Thỷ quyết tâm đưa làng trở thành Làng sức khoẻ. Được sự hỗ trợ của UBND huyện và sau 03 năm kiên trì vận động bà con thực hiện nếp sống mới, sức khoẻ của người dân đã được cải thiện. Để khuyến khích nhân dân tiếp tục thực hiện phong trào, ông Vàng Văn Thỷ đã đến UBND xã đề nghị hướng dẫn làm hồ sơ để được công nhận là Làng sức khoẻ. Vậy, cán bộ UBND xã giải quyết trường hợp này như thế nào?

    Nội dung này được Công ty Luật TNHH Đại Việt, 335 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội tư vấn như sau:

    • Quyết định 1467/QĐ-BYT ngày 19/4/2007 của Bộ Y tế về việc ban hành Quy chế công nhận danh hiệu "Gia đình sức khỏe", "Làng sức khỏe", "Tổ dân phố sức khỏe" và "Khu dân cư sức khỏe". Vì vậy phải áp dụng theo Quyết định mới này.

      - Cụ thể:

      + Về thẩm quyền: Công nhận Làng sức khỏe thuộc UBND cấp huyện, điều 3 Quyết đinh số 1467 quy định: “Danh hiệu "Gia đình sức khỏe" do Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân xã) công nhận. Danh hiệu "Làng sức khỏe", "Tổ dân phố sức khỏe" và "Khu dân cư sức khỏe" do Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là Uỷ ban nhân dân huyện) công nhận.

      + Về tiêu chuẩn Công nhận làng sức khỏe miền núi như sau:

      1. Không để xảy ra các dịch bệnh: Tả, lỵ, thương hàn, sốt rét, sốt xuất huyết, cúm A (H5N1) trên địa bàn.

      2. Giảm ít nhất 5% tỷ lệ mắc và chết một số bệnh truyền nhiễm gây dịch thường gặp so với cùng kỳ năm trước.

      3. Bảo đảm ít nhất 95% trẻ em dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ theo đúng quy định. Đối với khu vực miền núi và hải đảo, tỷ lệ này là 90%.

      4. Không để xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm có trên 30 người mắc/vụ và không có người tử vong do ngộ độc thực phẩm.

      5. Giảm hàng năm 1,5% tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi.

      6. ít nhất 85% số hộ gia đình sử dụng nước sạch và có nhà tắm hợp vệ sinh. Đối với khu vực miền núi và hải đảo, tỷ lệ này là 80%.

      7. Ít nhất 70% số hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh theo quy định của Bộ Y tế. Đối với khu vực miền núi và hải đảo, tỷ lệ này là 60%.

      8. 100% phụ nữ có thai được khám thai ít nhất 1 lần, trong đó trên 75% được khám thai 3 lần trở lên trong thời kỳ thai nghén.

      9. Giảm 10% các trường hợp tai nạn thương tích so với năm trước.

      10. Có các hoạt động thể dục, thể thao rèn luyện sức khoẻ thường xuyên.

      11. Có ít nhất 70% số hộ gia đình trong làng, khu dân cư được công nhận danh hiệu "Gia đình sức khoẻ". Đối với khu vực miền núi và hải đảo, tỷ lệ này là 60%. (điều 8)

      + Về hồ sơ đề nghị công nhận gồm có:

      a) Báo cáo thành tích của làng, khu dân cư;

      b) Biên bản bình xét của xã;

      c) Văn bản đề nghị của Trạm Y tế xã kèm theo danh sách các làng, khu dân cư được đề nghị công nhận danh hiệu "Làng sức khoẻ", "Khu dân cư sức khoẻ" có xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã. (điều 9).


    Nguồn:

    CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn