Doanh nghiệp Việt Nam được liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để thành lập doanh nghiệp mới thực hiện dự án đầu tư không?

Ngày hỏi:18/07/2017

Chào các bạn trong Ban biên tập Thư Ký Luật. Công ty mình là công ty bất động sản, đang là chủ đầu tư của một dự án. Nay công ty mình muốn liên kết với công ty nước ngoài để thành lập doanh nghiệp mới để đầu tư dự án nêu trên (dự án khu dân cư cấp 2) vậy bên mình và doanh nghiệp nước ngoài có được thành lập 1 doanh nghiệp mới để thực hiện dự án trên hay không? Mình có thể xem thêm thông tin tại đâu? Rất mong sự tư vấn từ Ban biên tập. Xin chân thành cảm ơn! Thùy Dung (dung***@gmail.com)

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Doanh nghiệp Việt Nam được liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để thành lập doanh nghiệp mới thực hiện dự án đầu tư không?
      (ảnh minh họa)
    • Chúng tôi nhận thấy trường hợp của công ty bạn và công ty nước ngoài (nhà đầu tư nước ngoài) đang có dự định thành lập doanh nghiệp mới để thực hiện đầu tư dự án của công ty bạn. Hình thức đầu tư này là đầu tư thành lập tố chức kinh tế theo quy định tại Điều 22 Luật đầu tư 2014, được hướng dẫn bởi Điều 44 Nghị định 118/2015/NĐ-CP. Cụ thể như sau:

      1. Nhà đầu tư được thành lập tổ chức kinh tế theo quy định của pháp luật. Trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này và phải đáp ứng các điều kiện sau đây:

      a) Tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ quy định tại khoản 3 Điều này;

      b) Hình thức đầu tư, phạm vi hoạt động, đối tác Việt Nam tham gia thực hiện hoạt động đầu tư và điều kiện khác theo quy định của điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

      2. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư thông qua tổ chức kinh tế được thành lập theo quy định tại khoản 1 Điều này, trừ trường hợp đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp hoặc đầu tư theo hợp đồng.

      3. Nhà đầu tư nước ngoài được sở hữu vốn điều lệ không hạn chế trong tổ chức kinh tế, trừ các trường hợp sau đây:

      a) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại công ty niêm yết, công ty đại chúng, tổ chức kinh doanh chứng khoán và các quỹ đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán;

      b) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hóa hoặc chuyển đổi sở hữu theo hình thức khác thực hiện theo quy định của pháp luật về cổ phần hóa và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước;

      c) Tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài không thuộc quy định tại điểm a và điểm b khoản này thực hiện theo quy định khác của pháp luật có liên quan và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

      Căn cứ quy định trên ta thấy, pháp luật cho phép nhà đầu tư nước ngoài được liên kết với nhà đầu tư trong nước để thành lập tổ chức kinh tế thực hiện dự án đầu tư, tuy nhiên, trước khi thành lập tổ chức kinh tế, nhà đầu tư nước ngoài phải có dự án đầu tư, thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này. Có nghĩa là trước khi hợp tác thành lập tổ chức kinh tế thì nhà đầu tư nước ngoài đã phải có dự án đầu tư, đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư thì mới được liên kết với nhà đầu tư trong nước để thành lập tổ chức kinh tế tiến hành dự án đầu tư.

      Như vậy, trường hợp của bạn nhà đầu tư nước ngoài chưa có dự án đầu tư đã thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật đầu tư 2014 và việc liên kết với công ty bạn để thành lập công ty mới là để thực hiện dự án của công ty bạn nên không phù hợp với quy định trên. Do vậy không thể tiến hành lập công ty giữa công ty bạn và công ty nước ngoài để đầu tư dự án trên.

      Trên đây là nội dung tư vấn đối với thắc mắc của bạn về việc liên kết với doanh nghiệp nước ngoài để thành lập doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư. Để hiểu chi tiết hơn vấn đề này, bạn vui lòng xem thêm tại Luật đầu tư 2014.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn