Giá trị pháp lý của một số loại hợp đồng khi người làm chứng chết

Ngày hỏi:04/04/2019

Xin cho hỏi, người làm chứng chết thì hợp đồng mua bán nhà đất có hiệu lực khi tranh chấp không ạ? Và người làm chứng chết thì hiệu lực của hợp đồng thừa kế có giá trị không khi có tranh chấp thừa kế sau này?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo thông tin bạn cung cấp cho chúng tôi thì chúng tôi có thể nhận định cụ thể vấn đề mà bạn đang thắc mắc bao gồm hai vấn đề chính:

      Nếu người làm chứng chết thì hợp đồng mua bán nhà đất có hiệu lực pháp luật không?

      Theo quy định tại Luật đất đai 2013 thì hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ một số trường hợp đặt biệt liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản.

      Mà theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì trường hợp luật quy định giao dịch dân sự phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký thì phải tuân theo quy định đó. Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ một số trường hợp đặc biệt.

      Như vậy: Căn cứ quy định được trích dẫn trên đây thì hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất (hay hợp đồng mua bán nhà đất) phải được công chứng hoặc chứng thực thì mới có hiệu lực pháp luật.

      Đồng nghĩa, pháp luật hiện hành không bắt buộc hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải có người làm chứng.

      Do đó: Trường hợp người làm chứng chết không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.

      Nếu người làm chứng chết thì hợp đồng thừa kế có hiệu lực pháp luật không?

      Theo như ghi nhận của chúng tôi thì hiện tại pháp luật không ghi nhận quy định liên quan đến hợp đồng thừa kế, nên đối với trường hợp của bạn thì có thể xảy ra các trường hợp như sau:

      Trường hợp 1: Hợp đồng thừa kế mà bạn thắc mắc chính là di chúc

      Thro quy định tại Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng. Di chúc bằng văn bản bao gồm nhiều loại di chúc khác nhau, trong đó bao gồm di chúc bằng văn bản có người làm chứng.

      Theo đó, trường hợp người lập di chúc không tự mình viết bản di chúc thì có thể tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản di chúc, nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng; những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.

      Mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc, trừ những người sau đây thì không được làm chứng:

      - Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.

      - Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.

      - Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

      Mặt khác, theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 thì di chúc trong trường hợp này có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:

      (1) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;

      (2) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.

      (3) Phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.

      Như vậy: Nếu di chúc bằng văn bản có người làm chứng nếu đáp ứng đủ các điều kiện kể trên thì được xác định là hợp pháp và có giá trị pháp lý kể từ ngày được công chứng, chứng thực. Việc sau này người làm chứng chết di chúc đó chết đi không làm ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của di chúc sau này.

      Do đó: Khi phát sinh tranh chấp, thì di chúc này vẫn được xem là một chứng cứ để cơ quan chức năng xem xét giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

      Trường hợp 2: Hợp đồng thừa kế mà bạn thắc mắc là thỏa thuận của những người thừa kế

      Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015 thì sau khi có thông báo về việc mở thừa kế hoặc di chúc được công bố, những người thừa kế có thể họp mặt để thỏa thuận những việc sau đây:

      - Cử người quản lý di sản, người phân chia di sản, xác định quyền, nghĩa vụ của những người này, nếu người để lại di sản không chỉ định trong di chúc;

      - Cách thức phân chia di sản.

      Mọi thỏa thuận của những người thừa kế phải được lập thành văn bản.

      Như vậy: Căn cứ quy định được trích dẫn trên đây thì pháp luật quy định những người thừa kế có quyền thỏa thuận với nhau về các vấn đề liên quan đến việc giải quyết chia thừa kế, tuy nhiên các thỏa thuận này phải được lập thành văn bản.

      Tuy nhiên, pháp luật không bắt buộc thỏa thuận này phải có người làm chứng, việc người làm chứng bản thỏa thuận chết không làm mất đi giá trị pháp lý của thỏa thuận về việc giải quyết chia thừa kế.

      Do đó: Trường hợp phát sinh tranh chấp thì bản thỏa thuận này vẫn được xem là một căn cứ để cơ quan chức năng xem xét giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

      Ngoài ra, tại Luật Công chứng 2014 có quy định văn bản thỏa thuận phân chia di sản đã được công chứng là một trong các căn cứ để cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký việc chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản cho người được hưởng di sản.

      Do đó: Để đảm bảo tính pháp lý cao nhất, thỏa thuận về việc chia tài sản nên được công chứng tại Văn phòng/Phòng công chứng.

      Trên đây là quan điểm tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn