Đánh phụ nữ và trẻ nhỏ bị tội gì?

Ngày hỏi:21/10/2016

Tối hôm qua em có cãi nhau với một phụ nữ. Chị ta dùng đôi guốc cao gót chi ta mang xong vào đánh vào mặt, vào đầu em. Lúc đó em đang ẵm con gái 18 tháng tuổi. Con em cũng bị chị ta đánh trúng 1 cái vào giữa trán. Đầu em bị chảy máu và sưng, vết thương phải may 2 mũi nhưng em chưa may. Con em bị sưng và rướm máu. Chồng em báo cho công an phường gần đó. Họ đã lập biên bản ghi nhận vụ việc. Nay em muốn làm đơn khỏi kiện chị ta dùng hung khí cố ý gây thương tích cho 2 mẹ con em và giám định thương tích có được không và phải làm đơn như thế nào? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Căn cứ vào Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác như sau:

      "Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

      1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

      a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

      b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

      c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

      d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

      đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

      e) Có tổ chức;

      g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

      h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

      i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

      k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

      2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

      3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

      4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

      - Trong đó, hung khí nguy hiểm được quy định tại Nghị quyết 02/2003/NQ-HĐTP ngày 17 tháng 4 năm 2003 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao như sau:

      "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong tự nhiên mà người phạm tội có được và nếu sử dụng công cụ, dụng cụ hoặc vật đó tấn công người khác thì sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng hoặc sức khoẻ của người bị tấn công.

      a. Về công cụ, dụng cụ

      Ví dụ: búa đinh, dao phay, các loại dao sắc, nhọn...

      b. Về vật mà người phạm tội chế tạo ra

      Ví dụ: thanh sắt mài nhọn, côn gỗ...

      c. Về vật có sẵn trong tự nhiên

      Ví dụ: gạch, đá, đoạn gậy cứng, chắc, thanh sắt..."

      - Như vậy, trong trường hợp của bạn, hành vi người khác dùng giày cao gót cố ý gây thương tích cho bạn theo Điều 104 Bộ luật hình sự năm 1999 thì giày cao gót không được coi là hung khí nguy hiểm.

      - Trong trường hợp này, bạn đã tố cáo hành vi của người cố ý gây thương tích cho bạn với cơ quan công an có thẩm quyền thì cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm tiến hành giải quyết vụ việc. Trước hết, với hành vi gây rối trật tự, đánh nhau, người bị tố cáo có thể bị xử phạt vi phạm hành chính. Trong trường hợp này, bạn là người bị hại, bạn có quyền yêu cầu bồi thường dân sự hoặc yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội cố ý gây thương tích. Về vấn đề giám định thương tật phải do cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thực hiện theo trình tự, thủ tục.

      - Về mức xử phạt hành chính đối với hành vi gây rối trật tự công cộng trong trường hợp của bạn được quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

      "2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

      a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;"

      - Về trách nhiệm bồi thường dân sự, bạn có thể thỏa thuận với người gây thương tích về mức bồi thường; hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc; phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần. Việc xác định thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được quy định tại Bộ luật dân sự 2005 như sau:

      "Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

      1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

      a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

      b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

      c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

      2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định."

      - Trong trường hợp người gây thương tích không thực hiện trách nhiệm bồi thường, bạn có thể khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận, huyện, thị xã nơi bị đơn cư trú. Căn cứ vào Khoản 4 Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định về hình thức, nội dung đơn khởi kiện như sau:

      "4. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:

      a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;

      b) Tên Tòa án nhận đơn khởi kiện;

      c) Tên, nơi cư trú, làm việc của người khởi kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người khởi kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

      Trường hợp các bên thỏa thuận địa chỉ để Tòa án liên hệ thì ghi rõ địa chỉ đó;

      d) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền và lợi ích được bảo vệ là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có);

      đ) Tên, nơi cư trú, làm việc của người bị kiện là cá nhân hoặc trụ sở của người bị kiện là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có). Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người bị kiện thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người bị kiện;

      e) Tên, nơi cư trú, làm việc của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cá nhân hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức; số điện thoại, fax và địa chỉ thư điện tử (nếu có).

      Trường hợp không rõ nơi cư trú, làm việc hoặc trụ sở của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì ghi rõ địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở cuối cùng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

      g) Quyền, lợi ích hợp pháp của người khởi kiện bị xâm phạm; những vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết đối với người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

      h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);

      i) Danh mục tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện."

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về xử lý hành vi đánh phụ nữ và trẻ nhỏ. Bạn nên tham khảo chi tiết Bộ luật hình sự năm 1999 để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn