Quy định về Ủy quyền cho Tổng giám đốc, Phó giám đốc trong công ty cổ phần

Ngày hỏi:29/02/2016
Công ty chúng tôi là Công ty cổ phần có ban hành quy chế nội bộ phân công nhiệm vụ cho Tổng giám đốc và các Phó Tổng giám đốc được ký tên, đóng dấu trên các văn bản, giấy tờ liên quan đến công việc của từng người phụ trách. Vậy công ty chúng tôi có cần phải làm văn bản ủy quyền cho từng người không hay chỉ cần căn cứ vào Quy chế phân công nhiệm vụ thì những người này được ký kết các hợp đồng, giao dịch? Pháp nhân có được ủy quyền cho pháp nhân không hay chỉ được ủy quyền cho cá nhân?

    Nội dung này được Sở tư pháp tỉnh Hà Nam tư vấn như sau:

    • Vấn đề bạn hỏi chúng tôi xin trả lời như sau:

      Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về vấn đề Ủy quyền như sau:

      Điều 581. Hợp đồng ủy quyền

      Hợp đồng ủy quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được ủy quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên ủy quyền, còn bên ủy quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định (Điều 581).

      Điều 142. Đại diện theo ủy quyền

      1. Đại diện theo ủy quyền là đại diện được xác lập theo sự ủy quyền giữa người đại diện và người được đại diện.

      2. Hình thức ủy quyền do các bên thoả thuận, trừ trường hợp pháp luật quy định việc ủy quyền phải được lập thành văn bản.

      Điều 143. Người đại diện theo ủy quyền

      1. Cá nhân, người đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể ủy quyền cho người khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự.

      2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi có thể là người đại diện theo ủy quyền, trừ trường hợp pháp luật quy định giao dịch dân sự phải do người từ đủ mười tám tuổi trở lên xác lập, thực hiện.

      Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về vấn đề đại diện và ủy quyền như sau:

      Điều 13. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp

      1. Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng tài, Tòa án và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.

      2. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Điều lệ công ty quy định cụ thể số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

      3. Doanh nghiệp phải bảo đảm luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú ở Việt Nam và phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật khi xuất cảnh khỏi Việt Nam. Trường hợp này, người đại diện theo pháp luật vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

      4. Trường hợp hết thời hạn ủy quyền theo khoản 3 Điều này mà người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp chưa trở lại Việt Nam và không có ủy quyền khác thì thực hiện theo quy định sau đây:

      a) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp tư nhân trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp trở lại làm việc tại doanh nghiệp;

      b) Người được ủy quyền vẫn tiếp tục thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh trong phạm vi đã được ủy quyền cho đến khi người đại diện theo pháp luật của công ty trở lại làm việc tại công ty hoặc cho đến khi chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, quyết định cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

      5. Trường hợp doanh nghiệp chỉ có một người đại diện theo pháp luật và người này vắng mặt tại Việt Nam quá 30 ngày mà không ủy quyền cho người khác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp hoặc bị chết, mất tích, tạm giam, kết án tù, bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự thì chủ sở hữu công ty, Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị cử người khác làm người đại diện theo pháp luật của công ty.

      6. Đối với công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên, nếu có thành viên là cá nhân làm người đại diện theo pháp luật của công ty bị tạm giam, kết án tù, trốn khỏi nơi cư trú, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm tội buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và tội khác theo quy định của Bộ luật hình sự thì thành viên còn lại đương nhiên làm người đại diện theo pháp luật của công ty cho đến khi có quyết định mới của Hội đồng thành viên về người đại diện theo pháp luật của công ty.

      7. Trong một số trường hợp đặc biệt, Tòa án có thẩm quyền có quyền chỉ định người đại diện theo pháp luật trong quá trình tố tụng tại Tòa án.

      Đối chiếu các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2005 và luật Doanh nghiệp năm 2014 thì vấn đề ủy quyền của Công ty bạn bắt buộc phải lập thành văn bản (có thể văn bản ủy quyền hoặc hợp đồng ủy quyền) có chữ ký của các bên và đóng dấu của Công ty. Ngoài ra theo quy định Điều 143 Bộ luật Dân sự thì người đại diện theo ủy quyền chỉ có thể là cá nhân, là con người cụ thể. Công ty là một pháp nhân, chỉ có năng lực pháp luật dân sự chứ không có năng lực hành vi dân sự. Vì vậy, pháp nhân không thể làm người đại diện theo ủy quyền./.

      Trên đây là nội dung trả lời về vấn đề ủy quyền chúng tôi trả lời để bạn tham khảo thêm. Cảm ơn bạn đã gửi câu hỏi.


    Nguồn:

    Cổng thông tin điện tử Tỉnh Hà Nam
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn