Trả lời công văn số 01/BCTC của Công ty TNHH Vật Liệu chịu lửa LIRR Việt Nam

Ngày hỏi:20/05/2016

Vướng mắc về khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào của tiền thuế thuê lại đất, thuê mặt bằng để thực hiện dự án?

    Nội dung này được Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh tư vấn như sau:

    • Trả lời công văn số 01/BCTC 2016 của Công ty TNHH Vật Liệu chịu lửa LIRR Việt Nam vướng mắc về khấu trừ, hoàn thuế GTGT đầu vào của tiền thuế thuê lại đất, thuê mặt bằng để thực hiện dự án. Vấn đề này Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh có ý kiến như sau:

      Căn cứ điểm 1, 2, 3, 4, khoản 10, Điều 1 Thông tư số 26/2013/TT-BTC ngày 27/02/2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về thuế GTGT và quản lý thuế tại Nghị định số 12/2015/NĐ - CP ngày 12 tháng 2 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính về hóa đơn bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ.

      “Điều kiện khấu trừ thuế GTGT đầu vào:

      1. Có hóa đơn giá trị gia tăng hợp pháp của hàng hóa, dịch vụ mua vào hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng khâu nhập khẩu hoặc chứng từ nộp thuế GTGT thay cho phía nước ngoài theo hướng dẫn của Bộ Tài chính áp dụng đối với các tổ chức nước ngoài không có tư cách pháp nhân Việt Nam và cá nhân nước ngoài kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam.

      2. Có chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào (bao gồm cả hàng hóa nhập khẩu) từ hai mươi triệu đồng trở lên, trừ các trường hợp giá trị hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu từng lần có giá trị dưới hai mươi triệu đồng, hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn dưới hai mươi triệu đồng theo giá đã có thuế GTGT và trường hợp cơ sở kinh doanh nhập khẩu hàng hóa là quà biếu, quà tặng của tổ chức, cá nhân ở nước ngoài.

      Chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt gồm chứng từ thanh toán qua ngân hàng và chứng từ thanh toán không dùng tiền mặt khác hướng dẫn tại khoản 3 và khoản 4 Điều này.

      3. Chứng từ thanh toán qua ngân hàng được hiểu là có chứng từ chứng minh việc chuyển tiền từ tài khoản của bên mua sang tài khoản của bên bán (tài khoản của bên mua và tài khoản của bên bán phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế. Bên mua không cần phải đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế tài khoản tiền vay tại các tổ chức tín dụng dùng để thanh toán cho nhà cung cấp) mở tại các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán theo các hình thức thanh toán phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành như séc, uỷ nhiệm chi hoặc lệnh chi, uỷ nhiệm thu, nhờ thu, thẻ ngân hàng, thẻ tín dụng, sim điện thoại (ví điện tử) và các hình thức thanh toán khác theo quy định (bao gồm cả trường hợp bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua sang tài khoản bên bán mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc bên mua thanh toán từ tài khoản của bên mua mang tên chủ doanh nghiệp tư nhân sang tài khoản bên bán nếu tài khoản này đã được đăng ký giao dịch với cơ quan thuế).

      a) Các chứng từ bên mua nộp tiền mặt vào tài khoản của bên bán hoặc chứng từ thanh toán theo các hình thức không phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành không đủ điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế GTGT đối với hàng hóa, dịch vụ mua vào từ hai mươi triệu đồng trở lên.

      b) Hàng hóa, dịch vụ mua vào từng lần theo hóa đơn từ hai mươi triệu đồng trở lên theo giá đã có thuế GTGT nếu không có chứng từ thanh toán qua ngân hàng thì không được khấu trừ.

      4. Các trường hợp thanh toán không dùng tiền mặt khác để khấu trừ thuế GTGT đầu vào gồm:

      a) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức thanh toán bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với giá trị hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có biên bản đối chiếu số liệu và xác nhận giữa hai bên về việc thanh toán bù trừ giữa hàng hóa, dịch vụ mua vào với hàng hóa, dịch vụ bán ra, vay mượn hàng. Trường hợp bù trừ công nợ qua bên thứ ba phải có biên bản bù trừ công nợ của ba (3) bên làm căn cứ khấu trừ thuế.

      b) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào theo phương thức bù trừ công nợ như vay, mượn tiền; cấn trừ công nợ qua người thứ ba mà phương thức thanh toán này được quy định cụ thể trong hợp đồng thì phải có hợp đồng vay, mượn tiền dưới hình thức văn bản được lập trước đó và có chứng từ chuyển tiền từ tài khoản của bên cho vay sang tài khoản của bên đi vay đối với khoản vay bằng tiền bao gồm cả trường hợp bù trừ giữa giá trị hàng hóa, dịch vụ mua vào với khoản tiền mà người bán hỗ trợ cho người mua, hoặc nhờ người mua chi hộ.

      c) Trường hợp hàng hoá, dịch vụ mua vào được thanh toán uỷ quyền qua bên thứ ba thanh toán qua ngân hàng (bao gồm cả trường hợp bên bán yêu cầu bên mua thanh toán tiền qua ngân hàng cho bên thứ ba do bên bán chỉ định) thì việc thanh toán theo uỷ quyền hoặc thanh toán cho bên thứ ba theo chỉ định của bên bán phải được quy định cụ thể trong hợp đồng dưới hình thức văn bản và bên thứ ba là một pháp nhân hoặc thể nhân đang hoạt động theo quy định của pháp luật.

      Trường hợp sau khi thực hiện các hình thức thanh toán nêu trên mà phần giá trị còn lại được thanh toán bằng tiền có giá trị từ 20 triệu đồng trở lên thì chỉ được khấu trừ thuế đối với trường hợp có chứng từ thanh toán qua ngân hàng.

      d) Trường hợp hàng hóa, dịch vụ mua vào được thanh toán qua ngân hàng vào tài khoản của bên thứ ba mở tại Kho bạc Nhà nước để thực hiện cưỡng chế bằng biện pháp thu tiền, tài sản do tổ chức, cá nhân khác đang nắm giữ (theo Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền) thì cũng được khấu trừ thuế GTGT đầu vào”.

      Căn cứ khoản 2, Điều 73, Luật Doanh nghiệp số 68/2013/QH13, được Quốc hội khóa 13 thông qua ngày 26/11/2014.

      “2. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp”.

      Công ty được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp là loại hình Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên, tên công ty viết bằng tiếng Việt: CÔNG TY TNHH VẬT LIỆU CHỊU LỬA LIRR VIỆT NAM ngày 16/12/2015;

      Thuế GTGT đầu vào phát sinh trên hóa đơn GTGT mẫu số 01GTKT3/001, ký hiệu PV/14P, số 0000003 do Công ty TNHH Đầu tư xây dựng Hạ tầng Phú Vinh xuất cho Công ty ngày 27/01/2016, tức là sau khi Công ty được thành lập và được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký Doanh nghiệp, có đầy đủ tư cách pháp nhân.

      Căn cứ vào các quy định nêu trên và hồ sơ của Công ty cung cấp, Công ty TNHH Vật Liệu chịu lửa LIRR Việt Nam trong Quý 1/2016 có phát sinh số thuế đầu vào của tiền thuê lại đất, thuê lại mặt bằng cho hoạt động dự án nhưng việc thanh toán qua Ngân hàng không thỏa mãn các điều kiện để được khấu trừ, hoàn thuế đầu vào, cụ thể:

      - Chuyển tiền từ tài khoản của Chủ đầu tư ở Trung Quốc cho Doanh nghiệp cho thuê đất tại Việt nam (Bên bán) mà tài khoản thanh toán này không phải là tài khoản của công ty TNHH Vật Liệu chịu lửa LIRR Việt Nam (Bên mua) chuyển tiền cho doanh nghiệp cho thuê đất (Bên bán).

      - Tài khoản chuyển tiền không phải là tài khoản đã đăng ký hoặc thông báo với cơ quan thuế.

      Do vậy thuế GTGT đầu vào phát sinh từ tiền thuê lại đất, thuê lại mặt bằng không đủ điều kiện để công ty khấu trừ, hoàn thuế GTGT theo quy định của pháp luật.

      Về phần góp vốn:

      Các thủ tục về góp vốn, chứng nhận góp vốn: Không thuộc thẩm quyền trả lời của cơ quan quản lý thuế. Đề nghị Quý công ty liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để biết thêm chi tiết.

      Cục Thuế tỉnh Hà Tĩnh trả lời để Công ty Công ty TNHH Vật Liệu chịu lửa LIRR Việt Nam biết và thực hiện./.


    Nguồn:

    Trang thông tin Cục thuế Hà Tĩnh
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn