Cách tính định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên

Ngày hỏi:15/11/2015
Ông Nguyễn Mậu Hiền, giảng viên Đại học Huế đề nghị giải đáp một số nội dung liên quan đến cách xác định mức giờ chuẩn giảng dạy theo Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT ngày 31/12/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chế độ làm việc đối với giảng viên. Theo phản ánh của ông Hiền, vừa qua, Đại học Huế dự thảo Quy định về chế độ làm việc cho giảng viên, trong đó tổng quỹ thời gian làm việc là 1.760 giờ, tổng định mức giờ chuẩn của giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp đều là 440 giờ. Còn theo ông Hiền, cách tính giờ chuẩn giảng dạy theo Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT thì tổng quỹ thời gian làm việc vẫn là 1.760 giờ, nhưng định mức giờ chuẩn chỉ 270 giờ. Việc quy đổi giờ chuẩn trong dự thảo Đại học Huế đưa ra như sau: Đối với nhiệm vụ giảng dạy, chuẩn bị trước, sau tiết giảng là 2,3 giờ đến 3,3 giờ và được quy đổi thành 1 giờ chuẩn; trực tiếp lên lớp là 1 giờ. Nhiệm vụ nghiên cứu khoa học từ 4,3 đến 6 giờ được quy đổi thành 1 giờ chuẩn. Nhiệm vụ học tập, bồi dưỡng, nhiệm vụ khác từ 3,7 giờ đến 8,7 giờ và được quy đổi thành 1 giờ chuẩn. Ông Hiền hỏi, cách quy đổi như trên có hợp lý và đúng quy định không? Đại học Huế tăng định mức giờ chuẩn của giảng viên như vậy có trái với Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT không?

    Nội dung này được Bộ Giáo dục và Đào tạo tư vấn như sau:

    • Về vấn đề này, Bộ Giáo dục và Đào tạo trả lời như sau:

      Khoản 2 Điều 4 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT quy định: "Tổng quỹ thời gian làm việc của giảng viên trong một năm học để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng các nhiệm vụ khác trong nhà trường là 1.760 giờ sau khi trừ số ngày nghỉ theo quy định".

      Giờ chuẩn giảng dạy và định mức giờ chuẩn giảng dạy của giảng viên được quy định cụ thể tại các Điểm a, b, Khoản 1, Điều 5; thời gian thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học được quy định tại Khoản 1, Điều 7 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT.

      Theo quy định, mỗi giảng viên trong một năm học phải thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ: Giảng dạy, nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường với tổng quỹ thời gian là 1.760 giờ.

      Trong đó, định mức giờ chuẩn giảng dạy là 270 giờ chuẩn (tương đương với 900 giờ hành chính); quỹ thời gian còn lại sau khi đã trừ thời gian dành cho việc giảng dạy là dành cho thực hiện nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường.

      Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT chỉ hướng dẫn quy đổi ra giờ chuẩn đối với một số nhiệm vụ cụ thể tại các Khoản 2, 3, Điều 5 quy định về giờ chuẩn giảng dạy và quy đổi ra giờ chuẩn.

      Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT không hướng dẫn quy đổi ra giờ chuẩn đối với các nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, học tập bồi dưỡng và các nhiệm vụ khác trong nhà trường. Mỗi giảng viên tự xây dựng kế hoạch và sắp xếp thời gian phù hợp với năng lực của cá nhân để hoàn thành các nhiệm vụ được giao trong một năm học.

      Chế độ làm việc của giảng viên căn cứ đặc thù chuyên ngành

      Tại Điều 9 Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT quy định trách nhiệm của thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học, cụ thể: "Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học căn cứ quy định tại Thông tư này, đặc thù của từng bộ môn, chuyên ngành đào tạo và điều kiện cụ thể của đơn vị ban hành văn bản quy định chi tiết chế độ làm việc của giảng viên tại cơ sở".

      Căn cứ quy định trên tại Thông tư số 47/2014/TT-BGDĐT, Đại học Huế có trách nhiệm nghiên cứu, xây dựng văn bản quy định chi tiết chế độ làm việc của giảng viên để áp dụng tại đơn vị nhằm bảo đảm quyền lợi cho đội ngũ giảng viên.

      Tuy nhiên, việc áp dụng chỉ thực hiện khi đơn vị đã xây dựng chi tiết và ban hành văn bản tại cơ sở.

      Theo Báo Điện tử Chính phủ


    Nguồn:

    Báo Giáo dục & Thời đại
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn