Bồi thường khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn

Ngày hỏi:14/10/2013

Chào quý luật sư! Trước đây, em gái tôi có ký hợp đồng lao động với một trường cao đẳng với chức danh giảng viên hợp đồng. Hiện tại, em gái tôi đang muốn chấm dứt hợp đồng lao động có thời hạn (1/3/2013 đến 28/2/2014) với trường này. Tuy nhiên, trong hợp đồng có quy định trách nhiệm và trường hợp của người lao động khi chấm dứt hợp đồng như sau: "a. Người lao động không đủ khả năng tiếp tục công việc có chứng nhận của cơ quan có thẩm quyền b. Mắc các bệnh xã hội do tiêm chích ma túy, sử dụng chất gây nghiện. c. Buôn bán ma túy, chất cấm. d. Có 3 tháng liên tục xếp hạng thi đua C (trong thời gian thử việc chưa lên lớp thì xếp loại B)  nếu người lao động vi phạm mục b,c,d phải bồi thường toàn bộ số tiền mà nhà trường đã chi cho" Vậy, xin hỏi quý luật sư, quy định bồi thường này có phù hợp với luật lao động hiện nay, và em tôi phải bồi thường tiền với những khoản nào? Xin quý luật sư

    • Hiện tại Bộ luật Lao động năm 2012 đã có hiêu lực, theo Quy định tại Điều 37 Bộ luật Lao động quy định các trường hợp người lao động được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động như sau:

      1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

      a) Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

      b) Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

      c) Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

      d) Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

      đ) Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

      e) Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

      g) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

      2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

      a) Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

      b) Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

      c) Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

      3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

      Bên cạnh các quy định trên hai bên có quyền thỏa thuận thêm nhưng thỏa thuận đó không trái pháp luật, anh cũng lưu ý những thỏa thuận và các nội dung kèm theo phải gắn với quan hệ lao động.

      Trường hợp em gái anh muốn chấm dứt hợp đồng trước thời hạn thì cần thực hiện theo quy định của Điều luật trên nhé. Trước đây nếu người lao động vi phạm nghĩa vụ báo trước thì gần như không có chế tài xử lý nào nhưng hiện tại nếu người lao động vi phạm nghĩa vụ báo trước sẽ phải nộp phạt và bồi thường cho doanh nghiệp theo quy định tại điều Điều 43 theo quy định này người lao động sẽ:

      1. Không được trợ cấp thôi việc và phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

      2. Nếu vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người sử dụng lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.

      3. Phải hoàn trả chi phí đào tạo cho người sử dụng lao động theo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn