Công ty ép nghỉ việc phải làm như thế nào?

Ngày hỏi:06/07/2019

Tôi đã làm việc cho 1 công ty Nhật được 1 năm 5 tháng và tôi đã ký HĐLĐ với công ty trong thời gian 02 năm, có nghĩa là đến tháng 7/2018 mới hết hạn, nhưng hôm nọ trưởng phòng nhân sự gọi tôi vào và nói chuyện là tôi viết đơn nghỉ đi vì công ty nói chưa đáp ứng được yêu cầu, ở lại thì không có quyền lợi gì. Ý là muốn ép tôi nghỉ, mà tôi thấy tôi làm việc đã cống hiến cho công ty khá nhiều mà khi hết hợp đồng tại sao vẫn ký tiếp HĐLĐ thứ 2. Xin hỏi luật sư có thể giải thích giúp tôi trường hợp trên ai sai, và tôi đã kí hợp đồng 02 năm rồi vậy tôi có được quyền lợi gì không? Xin cảm ơn!

 

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Công ty ép nghỉ việc phải làm như thế nào?
      (ảnh minh họa)
    • Căn cứ Điều 37 Bộ luật lao động 2012 quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động cụ thể như sau:

      1. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong những trường hợp sau đây:

      - Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

      - Không được trả lương đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

      - Bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

      - Bản thân hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn không thể tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động;

      - Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

      - Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

      - Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

      2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 1 Điều này, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước:

      - Ít nhất 3 ngày làm việc đối với các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1 Điều này;

      - Ít nhất 30 ngày nếu là hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 03 ngày làm việc nếu là hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng đối với các trường hợp quy định tại điểm d và điểm đ khoản 1 Điều này;

      - Đối với trường hợp quy định tại điểm e khoản 1 Điều này thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động được thực hiện theo thời hạn quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

      3. Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nhưng phải báo cho người sử dụng lao động biết trước ít nhất 45 ngày, trừ trường hợp quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.

      Mặt khác căn cứ Điều 38 Bộ luật lao động 2012 có quy định về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động theo đó:

      1. Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong những trường hợp sau đây:

      - Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

      - Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

      Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

      - Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

      - Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 33 của Bộ luật này.

      2. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động người sử dụng lao động phải báo cho người lao động biết trước:

      - Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn;

      - Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn;

      - Ít nhất 03 ngày làm việc đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này và đối với hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng.

      Như vậy,đối chiếu với trường hợp của bạn, bạn đang làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn. Việc trưởng phòng nhân sự bảo bạn viết đơn xin nghỉ việc vì bạn chưa đáp ứng được yêu cầu, ở lại thì không được quyền lợi gì là chưa có căn cứ theo quy định của pháp luật.

      Người sử dụng lao động chỉ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ khi thuộc 1 trong các trường hợp quy định tại Điều 38, người lao động đơn phương chấm dứt HĐLĐ thuộc điều 37. Trường hợp của bạn không thuộc các trường hợp trên. Do đó khi bạn vẫn tiếp tục làm việc ở công ty mà không nộp đơn nghỉ việc theo yêu cầu của trưởng phòng nhân sự thì bạn vẫn được hưởng các quyền lợi như trước đó bạn đã được hưởng tại công ty.

      Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi về vấn đề mà bạn thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn