Khi tuyển được công chức thì hợp đồng lao động có được tiếp tục làm hết thời hạn hay không?

Ngày hỏi:27/11/2014

Do UBND xã Lam Cốt, huyện Tân Yên thiếu cán bộ địa chính. Tháng 10/2012 tôi được Chủ tịch UBND huyện kí Quyết định hợp đồng lao động cho tôi được làm địa chính xã Lam Cốt có thời hạn là 2 năm. Hết thời hạn 2 năm do huyện chưa tuyển được công chức địa chính xã Lam Cốt nên đến tháng 11/2014 Chủ tịch huyện tiếp tục kí quyết định cho tôi có thời hạn là 1 năm.  Vậy cho tôi hỏi nếu trong 1 năm hợp đồng UBND huyện tuyển được công chức địa chính thì tôi có tiếp tục được làm việc đến hết thời hạn hợp đồng hay không? Và nếu chưa tuyển được công chức thì hết thời hạn tôi còn được kí hợp đồng nữa không?   Hình ảnh sau là hợp đồng 1 năm kế tiếp.

    Nội dung này được Luật sư Đào Thị Liên, công ty Luật Tiền Phong tư vấn như sau:

    • 1. Về việc UBND xã có được quyền đơn phương sử dụng hợp đồng lao động trước thời hạn hay không

      Luật Lao động 2012 quy định chỉ một số trường hợp được liệt kê sau đây mới làm phát sinh quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

      a) Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động;

      b) Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

      Khi sức khỏe của người lao động bình phục, thì người lao động được xem xét để tiếp tục giao kết hợp đồng lao động;

      c) Do thiên tai, hỏa hoạn hoặc những lý do bất khả kháng khác theo quy định của pháp luật, mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải thu hẹp sản xuất, giảm chỗ làm việc;

      d) Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy địnly hôn.

      Luật Lao động cũng quy định các trường hợp người sử dụng lao động không được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động bao gồm:

      (i). Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo quyết định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, đã điều trị 06 tháng liên tục, đối với người lao động làm theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.

      (ii). Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và những trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.

      (iii). Lao động nữ vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản, nuôi con dưới 12 tháng tuổi..

      (iv). Người lao động nghỉ việc hưởng chế độ thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hộiọ.

      Mọi hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động không tuân thủ quy định trên đều bị coi là trái luật và người sử dụng lao động phải:

      i. Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.

      ii. Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định.

      iii. Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý, thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại điểm i và trợ cấp thôi việc theo quy định tại điểm ii, hai bên thỏa thuận khoản tiền bồi thường thêm nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.

      iv. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết trong hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì ngoài khoản tiền bồi thường quy định tại điểm i, hai bên thương lượng để sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động.

      2. Quyền được tiếp tục ký hợp đồng lao động

      Hết hạn hợp đồng lao động và không rơi vào trường hợp người lao động là cán bộ công đoàn không chuyên trách đang trong nhiệm kỳ công đoàn là một trong những trường hợp chấm dứt quan hệ lao động theo quy định tại điều 36 Bộ Luật Lao động.

      Việc bạn có được xem xét ký lại hợp đồng lao động hay không căn cứ vào nhu cầu sử dụng lao động của bên sử dụng lao động chứ không đương nhiên.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn