Tư vấn pháp luật lao động

Ngày hỏi:27/10/2013

Đề nghị Báo Lao Động & Đời sống tư vấn cho tôi việc sau đây: Vào cuối năm 2012, Cty chúng tôi có thương lượng để giao kết HĐLĐ với chị V, nhưng chưa thống nhất được được quyền và nghĩa vụ của các bên. Đầu năm 2013, Cty đã dự thảo và ký trước 2 bản HĐLĐ chuyển cho chị V. Chị V không ký hợp đồng và giữ cả hai bản, không cung cấp hồ sơ cá nhân, nhưng vẫn làm việc, được Cty trả lương. Cty đã nhiều lần đề nghị nhưng chị V không ký hợp đồng, không trả lại hợp đồng cho Cty, không nộp hồ sơ cá nhân. Ngày 19.9.2013, làm việc với Cty, chị V vẫn tiếp tục khẳng định không ký hợp đồng, vì không đồng ý với các điều khoản của hợp đồng. Cty đã phải thông báo với chị V không tiếp tục đàm phán, ký kết hợp đồng nữa và yêu cầu chị V bàn giao công việc đang thực hiện. Kiểm tra những chứng từ mà chị V đã đề nghị Cty thanh toán trong quá trình làm việc, Cty phát hiện có nhiều chứng từ chi không trung thực. Trong đó có trường hợp chị V dùng hóa đơn do Cty X phát hành ngày 10.9.2012 để thanh toán số tiền hơn 6 triệu đồng, lý do thanh toán là chi phí bữa ăn trưa ngày 12.9.2013 cho nhân viên Cty tại nhà hàng Y (không thuộc Cty X, hóa đơn phát hành trước khi có buổi ăn trưa hai ngày). Kiểm tra thực tế chi phí cho bữa trưa ngày 12.9.2012, phát hiện chị V lấy lý do để giảm chi phí cho Cty, lấy của 20 nhân viên, mỗi người 100.000 đồng để trả cho bữa ăn trưa có giá 220.000 đồng/người. Sau đó, chị V đã làm thủ tục thanh toán theo hóa đơn nói trên, lấy của Cty hơn 6 triệu đồng, lấy của nhân viên 2 triệu đồng. Đề nghị Báo Lao Động & Đời sống cho chúng tôi biết giữa Cty với chị V có quan hệ LĐ hợp pháp hay không? Việc chúng tôi thông báo chị V không tiếp tục đàm phán, đồng thời yêu cầu chị V bàn giao công việc đang thực hiện có đúng pháp luật hay không? Việc chị V thanh toán khoản tiền nói trên có vi phạm pháp luật hay không? Nếu có xử lý như thế nào?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo Điều 17 của Bộ luật Lao động, nguyên tắc giao kết HĐLĐ là các bên: Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực; Tự do giao kết HĐLĐ nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước LĐ tập thể và đạo đức xã hội. Vì thế, việc chị V không ký HĐLĐ với Cty là chủ ý của chị V. Đồng thời việc Cty không tiếp tục đàm phán, ký kết với chị V cũng là chủ ý của Cty, là quyền của các bên, phù hợp với nguyên tắc giao kết hợp đồng được quy định tại Điều 17, Bộ luật Lao động.

      Theo quy định của Điều 15, Bộ luật Lao động: HĐLĐ là sự thoả thuận giữa người LĐ với người sử dụng LĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ LĐ. Việc chị V cho rằng một số yêu cầu của chị V chưa được Cty chấp nhận, không ký hợp đồng. Như vậy, hai bên chưa thỏa thuận, thống nhất được nội dung của HĐLĐ. Vì thế, theo quy định tại Điều 15, Bộ luật Lao động giữa Cty và chị V chưa có HĐLĐ. Việc Cty thông báo chấm dứt quá trình việc làm của chị V tại Cty với lý do giữa hai bên không thống nhất, ký kết được HĐLĐ là hợp pháp, vì việc này đã chấm dứt việc Cty vi phạm quy định khoản 1, Điều 18, Bộ luật Lao động quy định về nghĩa vụ giao kết HĐLĐ, là trước khi nhận người LĐ vào làm việc, người sử dụng LĐ và người LĐ phải trực tiếp giao kết HĐLĐ.

      Đối với việc Cty phát hiện các hóa đơn, chứng từ chị V đã dùng để thanh toán không trung thực, Cty cần kiểm tra, xác minh cụ thể từng hóa đơn thanh toán. Nếu phát hiện có dấu hiệu chị V thanh toán lớn hơn số tiền chi phí thực hoặc không có chi phí thực nhưng vẫn thanh toán, thì có dấu hiệu gian dối chiếm đoạt tiền của Cty. Nếu xác định có căn cứ là chị V đã chiếm đoạt tiền của Cty, thì Cty có thể làm đơn tố cáo ra cơ quan công an để giải quyết theo quy định của pháp luật.

      Riêng đối với trường hợp chị V đề nghị thanh toán số tiền hơn 6 triệu đồng nói trên đã có căn cứ khẳng định hóa đơn không phản ánh khoản chi phí thực tế. Khoản chi thực tế nhỏ hơn số tiền đã thanh toán. Việc này, đã có đủ bằng chứng thể hiện chị V gian dối trong việc đề nghị thanh toán, chiếm đoạt tiền của Cty, có thể đã có dấu hiệu phạm vào phạm vào “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự. Nếu cần phải xử lý việc này một cách chính xác, Cty có thể tố cáo sự việc ra cơ quan công an có thẩm quyền để giải quyết theo quy định của pháp luật.


    Nguồn:

    Báo Lao Động
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn