Bộ phận cơ thể có phải là tài sản không?

Ngày hỏi:25/04/2019

Xin chào Ban biên tập, em đang là sinh viên năm nhất ngành y. Em có chút thắc mắc mong được giải đáp. Anh chị cho em hỏi bộ phận cơ thể có phải là tài sản không? Do em thấy có rất nhiều trường hợp mua bán nội tạng diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi nhưng chưa kiểm soát được. Mong sớm nhận được phản hồi từ ban biên tập.

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định tại Điều 105 Bộ luật dân sự 2015 thì:

      "Điều 105. Tài sản

      1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.

      2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai."

      Theo quy định trên thì bộ phận cơ thể người không được coi là tài sản.

      Bên cạnh đó, Các nguyên tắc trong việc hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác được quy định tại Điều 4 Luật hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến lấy xác 2006 như sau:

      - Tự nguyện đối với người hiến, người được ghép.

      - Vì mục đích nhân đạo, chữa bệnh, giảng dạy hoặc nghiên cứu khoa học.

      - Không nhằm mục đích thương mại.

      - Giữ bí mật về các thông tin có liên quan đến người hiến, người được ghép, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác.

      Đối với bộ phận cơ thể người thì pháp luật khuyến khích hiến, tặng cho những người cần được giúp đỡ. Đối với hành vi mua bán bộ phận cơ thể người nhằm mục đích thương mại sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người. Được quy định cụ thể tại Điều 154 Bộ luật hình sự 2015 như sau:

      "Điều 154. Tội mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

      1. Người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Vì mục đích thương mại;

      c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn, nghề nghiệp;

      d) Đối với từ 02 người đến 05 người;

      đ) Phạm tội 02 lần trở lên;

      e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

      a) Có tính chất chuyên nghiệp;

      b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên;

      c) Đối với 06 người trở lên;

      d) Gây chết người;

      đ) Tái phạm nguy hiểm.

      4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm."

      Trên đây là ý kiến tư vấn của chúng tôi đối với yêu cầu hỗ trợ của bạn.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc

    Có thể bạn quan tâm:





    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn