Có bị truy tố về tội hủy hoại tài sản

Ngày hỏi:20/05/2013

Em xin nhờ anh chị tư vấn cho em trường hợp sau:     Do có xich mích từ trước với nhà bên cạnh bạn em có gọi thêm hai người nữa đến và đập vỡ cửa kính và một số đồ đạc nhà đấy. Công an phường có mời hai bên ra giải quyết theo đơn của bên bị hại, gia đình bạn e đã bồi thường cho bên bị hại kia 40 triệu đồng theo yêu cầu của người ta và người ta đã đồng ý rút lại đơn không kiện bạn em nữa. Vậy anh chị cho e hỏi bạn e có bị truy tố hình sự về tội có ý hủy hoại tài sản nữa hay chỉ xử lý hành chính thôi ạ? Em xin cảm ơn!

    Nội dung này được Luật sư Đỗ Trọng Dũng tư vấn như sau:

    • Việc xác định có hay không có trách nhiệm hình sự thì phải căn cứ vào hành vi của bạn kia và quy định tại Điều 143 Bộ luật Hình sự về tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Trong trường hợp mà hành vi của các bạn đó gây thiệt hại và phạm vào các quy định tại Điều 143 và đạt độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự thì sẽ bị khởi tố hình sự. Việc gia đình bị hại rút đơn tố cáo chỉ là yếu tố để xem xét việc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đối với loại tội này, cơ quan điều tra sẽ khởi tố vụ án nếu hành vi cấu thành tội phạm kể cả khi bị hại rút đơn.

      Bạn có thể tham khảo các điều luật sau:

      Điều 143 Bộ luật Hình sự 1999 đã sửa đổi năm 2010

      "Điều 143. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

      1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác gây thiệt hại từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Dùng chất nổ, chất cháy hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

      c) Gây hậu quả nghiêm trọng;

      d) Để che giấu tội phạm khác;

      đ) Vì lý do công vụ của người bị hại;

      e) Tái phạm nguy hiểm;

      g) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

      a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."

      Điều 105 Bộ luật Tố tụng hình sự:

      "Điều 105. Khởi tố vụ án hình sự theo yêu cầu của người bị hại

      1. Những vụ án về các tội phạm được quy định tại khoản 1 các điều 104, 105, 106, 108, 109, 111, 113, 121, 122, 131 và 171 của Bộ luật hình sự chỉ được khởi tố khi có yêu cầu của người bị hại hoặc của người đại diện hợp pháp của người bị hại là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

      2. Trong trường hợp người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu trước ngày mở phiên tòa sơ thẩm thì vụ án phải được đình chỉ.

      Trong trường hợp có căn cứ để xác định người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu khởi tố trái với ý muốn của họ do bị ép buộc, cưỡng bức thì tuy người đã yêu cầu khởi tố rút yêu cầu, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án vẫn có thể tiếp tục tiến hành tố tụng đối với vụ án.

      Người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố thì không có quyền yêu cầu lại, trừ trường hợp rút yêu cầu do bị ép buộc, cưỡng bức."


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn