Đặt camera quay lén có phạm tội không?

Ngày hỏi:31/01/2016
Anh Nguyễn Văn K. cùng bạn gái thuê một phòng tại nhà nghỉ A. Trong khi sử dụng phòng, anh K. phát hiện sau gương phòng nghỉ có đặt thiết bị quay lén. Sau khi làm đơn tố cáo, cơ quan chức năng đã phát hiện người đặt thiết bị quay lén trong phòng nghỉ chính là Hoàng Mạnh H., nhân viên lễ tân của nhà nghỉ A. Tại cơ quan công an, Hoàng Mạnh H. khai nhận mình đã đặt 3 thiết bị quay lén tại 3 phòng nghỉ khác nhau theo yêu cầu của chủ nhà nghỉ. Sau khi bị cơ quan chức năng triệu tập, chủ nhà nghỉ khai nhận người này cho nhân viên lắp đặt camera quay lén các cặp đôi tại 3 phòng với mục đích để… xem lại. Hành vi quay clip của nhân viên Hoàng Mạnh H. có vi phạm pháp luật? Chủ nhà nghỉ có vi phạm pháp luật? Nếu có thì phạm tội gì?
  • Quay lén là phạm pháp
    Hành vi đặt thiết bị quay lén của chủ nhà nghỉ là vi phạm pháp luật về quyền bí mật đời tư của cá nhân. Điều 38, Bộ luật Dân sự đã quy định: Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được người đó đồng ý. Trường hợp người đó chết, mất năng lực hành vi dân sự (hoặc chưa đủ 15 tuổi) thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã thành niên hoặc người đại diện về pháp luật đồng ý. Trừ trường hợp thông tin được thu thập và công bố theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cơ quan tiến hành tố tụng (tòa án, viện kiểm sát, cơ quan cảnh sát điều tra...).

    Nếu bí mật đời tư của công dân bị xâm phạm thì cá nhân có quyền được bảo vệ theo quy định tại Điều 25, Bộ luật Dân sự: “Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, xin lỗi, cải chính công khai; Yêu cầu người vi phạm hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền buộc người vi phạm bồi thường thiệt hại”.

    Chủ nhà nghỉ đặt các thiết bị quay lén nhằm mục đích gì thì rất khó chứng minh. Chỉ khi chủ nhà nghỉ đưa chúng ra sử dụng thì mới xác định được. Ở trong vụ việc này, chủ nhà nghỉ khai khi lắp đặt thiết bị quay lén với mục đích để xem. Nếu cơ quan điều tra chứng minh chủ nhà nghỉ đã lan truyền cho nhân viên hoặc người khác cùng xem, phát tán trên mạng Internet… thì hành vi này có dấu hiệu của tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 253, Bộ luật Hình sự năm 1999.

    Điều 253. Tội truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy
    1. Người nào làm ra, sao chép, lưu hành, vận chuyển, mua bán, tàng trữ nhằm phổ biến sách, báo, tranh, ảnh, phim, nhạc hoặc những vật phẩm khác có tính chất đồi trụy, cũng như có hành vi khác truyền bá văn hóa phẩm đồi trụy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm:
    a) Vật phạm pháp có số lượng lớn;
    b) Phổ biến cho nhiều người;
    c) Đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:
    a) Có tổ chức;
    b) Vật phạm pháp có số lượng rất lớn;
    c) Đối với người chưa thành niên;
    d) Gây hậu quả nghiêm trọng;
    đ) Tái phạm nguy hiểm.
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
    a ) Vật phạm pháp có số lượng đặc biệt lớn;
    b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.
    4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 3 triệu đồng đến 30 triệu đồng.
    Nếu trường hợp chủ nhà nghỉ dùng các hình ảnh quay lén đó nhằm mục đích tống tiền thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 135, Bộ luật Hình sự về tội cưỡng đoạt tài sản:
    Điều 135. Tội cưỡng đoạt tài sản
    1. Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm.
    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 3 năm đến 10 năm:
    a) Có tổ chức;
    b) Có tính chất chuyên nghiệp;
    c) Tái phạm nguy hiểm;
    d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng;
    đ) Gây hậu quả nghiêm trọng.
    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm:
    a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng;
    b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm:
    a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên;
    b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.


Nguồn:

Báo An ninh Thủ đô
Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
Ý kiến bạn đọc
Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn