Hết thời gian tạm giữ có được rời khỏi nơi cư trú

Ngày hỏi:19/05/2015

 Tôi có một đứa cháu phạm tội cướp dật ( chưa đủ 16 tuổi, phạm tội lần đầu, không gây hậu quả nghiêm trọng). Bị công an huyện tạm giữ 9 ngày, rồi chuyển hồ sơ sang viện kiểm sát nhân dân đề nghị tạm giam và truy tố. Nhưng viện kiểm sát quyết định không tạm giam nên công an cho cháu về với gia đình. Vậy luật sư vui lòng cho tôi hỏi:  1. Trường hợp của cháu có  bị truy tố nữa không? 2. Hè này gia đình cho cháu về quê chơi có cần phải xin cơ quan điều tra hay không? ( trong giấy bảo lãnh gia đình cam kết không cho cháu rời khỏi nơi cư trú). 

    Nội dung này được Luật sư Nguyễn Đức Chánh, Đoàn Luật sư TP.HCM tư vấn như sau:

    • ​Việc ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về hành vi cướp giật và quyết định tạm giam là khác nhau. Có thể VKS khởi tố nhưng xét thấy bị can có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần áp dụng biện pháp tạm giam mà chỉ cần áp dụng biện pháp khác như cấm đi khỏi nơi cư trú...

      Bạn có thể cho biết là cháu bạn khi cướp giật có dùng xe máy không? Có tổ chức không?

      Theo khoản Điều 12 BLHS thì: "Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng."

      Nếu cháu bạn có dùng xe máy hoặc có tổ chức thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm theo điểm d (hoặc a) khoản 2 Điều 136 BLHS với khung hình phạt từ 3 năm đến 7 năm. Và trường hợp này cháu vẫn bị truy trách nhiệm hình sự do cố ý thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng.

      Còn nếu cháu không có hành vi này thuộc khoản 2 Điều 136 BLHS thì cháu chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và chắc chắn không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

      Điều [Anchor] 136. Tội cướp giật tài sản

      1. Người nào cướp giật tài sản của người khác, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.
      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:
      a) Có tổ chức;
      b) Có tính chất chuyên nghiệp;
      c) Tái phạm nguy hiểm;
      d) Dùng thủ đoạn nguy hiểm;
      đ) Hành hung để tẩu thoát;
      e) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;
      g) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;
      h) Gây hậu quả nghiêm trọng.
      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:
      a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;
      b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;
      c) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:
      a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc làm chết người;
      b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
      c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn