Ngân hàng có được xử lý tài sản bảo lãnh của bên thứ ba hay không?

Ngày hỏi:30/11/2016

Em gặp phải tình huống như thế này, mong luật sư tư vấn giúp em ạ. A đã vay ngân hàng B số tiền là 100 triệu với thời hạn là 1 năm. Để bảo đảm cho khoản vay này, C đã tự nguyện đứng ra bảo lãnh khả năng trả nợ cho A đối với ngân hàng B. Tuy nhiên, ngân hàng B yêu cầu C phải có tài sản bảo đảm. Theo đó, C đã thế chấp căn hộ chung cư có giá trị 1 tỷ đồng cho ngân hàng B. Tuy nhiên, căn nhà này đã được C thế chấp để vay tại ngân hàng D số tiền 300 triệu. Khi thế chấp, C đã thông báo cho ngân hàng B. Sau khi hết thời hạn hợp đồng, A đã không thanh toán đầy đủ số tiền cho ngân hàng B, nên ngân hàng B đã làm thủ tục để bán đấu giá căn hộ chung cư của C (lúc này, C đã thanh toán toàn bộ số nợ với ngân hàng D và đã xóa thế chấp ngôi nhà tại ngân hàng D). Em muốn hỏi rằng: A có bắt buộc phải ký vào hợp đồng bảo lãnh không? Tại sao? Và việc ngân hàng B bán đấu giá căn hộ chung cư của C là đúng hay sai? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Căn cứ Điều 361 Bộ luật dân sự 2005 quy định như sau:

      “Bảo lãnh là việc người thứ ba (say đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên được bảo lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”

      Theo Điều 362 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về hình thức bảo lãnh như sau:

      “Việc bảo lãnh phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản bảo lãnh phải được công chứng hoặc chứng thực.”.

      Như vậy, theo quy định trên thì khi hợp đồng bảo lãnh lập thành văn bản riêng thì A không bắt buộc phải ký tên trong hợp đồng đó. Nếu hợp đồng bảo lãnh ghi trong hợp đồng chính thì đương nhiên phải có chữ ký của A.

      Thứ hai, xử lý tài sản của bên bảo lãnh:
      Căn cứ Điều 369 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định về xử lý tài sản như sau:

      “Điều 369. Xử lý tài sản của bên bảo lãnh

      Trong trường hợp đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh, mà bên bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì bên bảo lãnh phải đưa tài sản thuộc sở hữu của mình để thanh toán cho bên nhận bảo lãnh.”

      Trong trường hợp của bạn anh trai chỉ bảo lãnh cho bạn tại ngân hàng A nên khi bạn không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ thì ngân hàng A có quyền đấu giá tài sản bảo lãnh của anh trai bạn. Còn đối với ngân hàng B thì anh trai bạn đã thanh toán hết nợ và xóa thế chấp nên ngân hàng B không có quyền bán đấu giá tài sản bảo lãnh (ngôi nhà của anh trai bạn).
      Như vậy, theo quy định trên thì ngân hàng B không có quyền bán đấu giá tài sản bão lãnh (căn hộ chung cư của C).

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về việc ngân hàng xử lý tài sản bảo lãnh của bên thứ ba. Bạn nên tham khảo chi tiết Bộ luật dân sự 2005 để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn