Quyền của con nuôi được hưởng di sản do mẹ nuôi để lại

Ngày hỏi:21/01/2006
Chú tôi là con nuôi của bà Nguyễn Thị My. Trong quá trình bà My nuôi chú tôi, bà và chú tôi chưa làm thủ tục nhận con nuôi, mẹ nuôi. Năm 1998 bà My mất có để lại tài sản là quyền sử dụng đất với lô đất có diện tích 100m2 đất ở nông thôn. Vậy trường hợp của chú tôi có được hưởng thừa kế hay không và phải làm thủ tục như thế nào. Xin chân thành cảm ơn! Gửi bởi: Mai Lanh

    Nội dung này được Bộ Tư pháp tư vấn như sau:

    • Do bà My không lập di chúc để lại quyền sử dụng đất cho bác bạn nên bác bạn không được hưởng thừa kế theo di chúc. Việc bác bạn có được hưởng thừa kế theo pháp luật hay không sẽ được xem xét dưới đây.

      Di sản của bà My là quyền sử dụng 100m2 đất ở nông thôn được chia theo pháp luật. Những người thừa kế của bà My theo Điều 676 BLDS gồm:

      - Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;

      - Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

      - Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột, chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.

      Như vậy pháp luật Việt Nam công nhận quyền của con nuôi đối với di sản do người nuôi để lại (không phân biệt con đẻ hay con nuôi). Tuy nhiên, việc nuôi con nuôi phải được sự công nhận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Quy định này không chỉ đến Luật Hôn nhân và gia đình 2000 mới được quy định (Điều 72 quy định việc nhận nuôi con nuôi phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch) mà đã được quy định trong các văn bản luật trước đây. Điều 24 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959 quy định: “Việc nhận nuôi con nuôi phải được Ủy ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch”. Điều 47 Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 cũng quy định: “Việc cử người đỡ đầu (người nuôi con nuôi) do Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn công nhận”.

      Đối chiếu với những quy định trên thì dù đã nhận con nuôi từ rất lâu nhưng do không có giấy tờ xác nhận của chính quyền địa phương nên việc nhận con nuôi của bà My và bác bạn chưa được công nhận theo quy định của pháp luật. Do vậy, bác bạn không thuộc hàng thừa kế thứ nhất theo quy định tại Điều 676 BLDS, và không có quyền hưởng di sản mà bà My để lại.


    Nguồn:

    Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn