Tài sản được mẹ vợ cho sau khi kết hôn là tài sản chung hay riêng?

Ngày hỏi:11/01/2019

Tôi tên Tuấn Dũng hiện sinh sống tại Tiền Giang. Sau khi tôi và vợ kết hôn thì cha mẹ vợ có cho chúng tôi mảnh đất để trồng trọt, đất này chỉ có tôi đứng tên. Nhưng sau thời gian hôn nhân của chúng tôi có mâu thuẫn trên đà ly hôn, nên tôi muốn biết tài sản trong thời kỳ hôn nhân của chúng tôi giải quyết như thế nào? Phần đất mà tôi đứng tên là tài sản chung hay riêng?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định tài sản chung của vợ chồng như sau:

      - Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

      Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

      - Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

      - Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

      => Như vậy, quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

      Theo đó, khi ly hôn thì tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có quy định trên nguyên tắc tài sản chung của vợ chồng thì được chia đôi, tuy nhiên có tính đến các yếu tố sau đây:

      - Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

      - Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

      - Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

      - Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

      Trên đây là nội dung tư vấn. Mong là những thông tin chia sẻ trên đây sẽ giúp ích cho bạn.

      Trân trọng và chúc sức khỏe!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn