Tài sản riêng của chồng trong thời kỳ hôn nhân tặng cho có cần hỏi ý kiến vợ không?

Ngày hỏi:06/02/2017

Gia đình tôi có 7 nguời gồm: Bố,Mẹ, Chị gái, Tôi, 2 Em trai,1 Em gái. Hiện tại tôi có 1 mảnh đất mà tổ tiên để lại cho bố tôi. Năm 1992 khi bố tôi còn sống có cho tôi mảnh đất đó và có cùng tôi đến xã phuờng để làm thủ tục chuyển mảnh đất đó cho tôi và đã được xã phường công nhận sang tên và cấp bìa đỏ mang tên tôi cho tôi từ đó đến nay và tôi cũng là nguời đóng thuế từ đó đến nay. Nhưng đến năm 2015 bố tôi qua đời và k để lại di chúc gì. đến nay mẹ tôi và các chị em tôi có muốn đòi tôi phải chia miếng đất đó ra cho mẹ và các chị em tôi. Vậy xin hỏi nếu mẹ và các chị em tôi kiện thì tôi có phải chia mảnh đất đó cho mẹ và các chị em tôi không? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 thì tài sản chung của vợ chồng được quy định như sau:

      1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.

      Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

      2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.

      3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

      Đồng thời, Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 quy định về tài sản riêng của vợ chồng như sau:

      1. Tài sản riêng của vợ, chồng gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng, được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được chia riêng cho vợ, chồng theo quy định tại các điều 38, 39 và 40 của Luật này; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ, chồng và tài sản khác mà theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.

      2. Tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng cũng là tài sản riêng của vợ, chồng. Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật này.

      Bạn nói tài sản của bố bạn là do tổ tiên để lại và để riêng cho bố bạn thì có thể xác định đây là tài sản bố bạn được thừa kế riêng, đối với tài sản này thì bố bạn hoàn toàn có quyền tự quyết định là cho ai, việc bố bạn đã cho bạn mảnh đất được xác nhận bởi chính quyền địa phương và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là hợp pháp. Vì vậy khi đã tặng cho riêng thì mảnh đất đó là thuộc quyền sử dụng của bạn, mẹ bạn và những người con khác của bố bạn sẽ không có quyền tranh chấp mảnh đất khi bố bạn mất. Những người thuộc hàng thừa kế chỉ có quyền thỏa thuận với nhau về những di sản mà bố bạn mất đã để lại chứ không thể yêu cầu chia tài sản của bạn.

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về việc tặng cho tài sản trong thời ký hôn nhân. Bạn nên tham khảo chi tiết Luật Hôn nhân và gia đình 2014 để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn