Đánh người gây thương tật

Ngày hỏi:07/01/2015

Anh tôi uống rượu say, dắt theo 1 đứa bé, vào quán mua thẻ điện thoại, vì ko làm chủ đc mình anh ko nạp đc thẻ nhờ chủ quán nạp hộ. đứa bé đòi uống bia của khách trong quán, chủ quán trêu là gọi bố nó, anh tôi mới bảo :" các ông lừa trẻ con" thế là chủ quán dìm đầu đánh anh tôi 3 cái tát, trong lúc say rượu anh chạy sang hàng xóm lấy được 1 cái dùi đục mang đến cửa quán ngồi gõ, thì 2 anh em chủ quán 1 người ôm 1 người lấy dùi đục lôi vào trong nhà đánh, đánh anh tôi bị bục đầu và chấn thương sọ não mất 20% sức khỏe. Vậy anh tôi sẽ bị truy cứu như thế nào?

    • Với các thông tin bạn nêu có cơ sở để xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người gây thương tích cho anh trai bạn theo quy định tại Điều 104 Bộ Luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi năm 2009. Nội dung cụ thể như sau:

      Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

      1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

      a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

      b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

      c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

      d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

      đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

      e) Có tổ chức;

      g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

      h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

      i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

      k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

      2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

      3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

      4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

      Với tỷ lệ thương tích của anh trai bạn và các hành vi được những người đó thực hiện thì có thể xem xét áp dụng hình phạt quy định tại Khoản 2 "Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm."

      Do bạn cung cấp thông tin chưa rõ nên nếu sự việc đã được cơ quan công an tiếp nhận thì anh trai bạn cần gửi đơn đến cơ quan công an đề nghị giải quyết sự việc theo quy định chung của pháp luật.

      Trường hợp công an chưa tiếp nhận sự việc thì anh bạn cần phải có đơn trình báo, tố cáo sự việc tới cơ quan công an để cơ quan công an thụ lý giải quyết.

      Theo quy định tại Điều 104 nêu trên là phần trách nhiệm hình sự, trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội cố ý gây thương tích thì những người gây thương tích cho anh trai bạn còn phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 609 Bộ Luật Dân sự năm 2005

      Điều 609. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm

      1. Thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm bao gồm:

      a) Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại;

      b) Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại; nếu thu nhập thực tế của người bị thiệt hại không ổn định và không thể xác định được thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại;

      c) Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị; nếu người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại bao gồm cả chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

      2. Người xâm phạm sức khoẻ của người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần mà người đó gánh chịu. Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá ba mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn