Chấp hành viên không được nhận tiền hoa hồng từ bán đấu giá tài sản thi hành án

Tôi là người phải thi hành án, tài sản tôi bị cưỡng chế đem bán đấu giá tài sản tôi phải đóng chi phí thẩm định giá, phí bán đấu giá tài sản, nhưng được biết chấp hành viên được tiền hoa hồng 10% từ bán đấu giá tài sản của tôi khi ký với công ty đấu giá, thẩm định giá. Là người phải thi hành án đã không có tiền trả nợ, tại sao chấp hành viên không trả tiền đó cho tôi vì tất cả tiền gì cũng lấy từ tài sản bán đấu giá của tôi ra thanh toán. Tôi rất bất bình mong Quý cơ quan có câu trả lời thỏa đáng để tôi được hiểu rõ hơn./.

    Nội dung này được Lê Anh Tuấn - Tổng cục Thi hành án dân sự tư vấn như sau:

    • Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định theo quy định. Chấp hành viên, Thẩm tra viên và công chức khác làm công tác thi hành án dân sự được cấp trang phục, phù hiệu để sử dụng trong khi thi hành công vụ, được hưởng tiền lương, chế độ phụ cấp phù hợp với nghề nghiệp và chế độ ưu đãi khác theo quy định của Chính phủ.

      Hiện nay, pháp luật không quy định Chấp hành viên được nhận tiền hoa hồng từ định giá, bán đấu giá tài sản thi hành án. Chấp hành viên nhận khoản tiền này thì đó là hành vi vi phạm pháp luật, vì vậy nếu có căn cứ chứng minh Chấp hành viên nhận tiền hoa hồng 10% từ bán đấu giá tài sản của bà khi ký với công ty đấu giá, thẩm định giá tài sản thì bà có quyền tố cáo với người có thẩm quyền giải quyết.

      Thẩm quyền và thời hạn giải quyết tố cáo quy định tại Điều 157 Luật Thi hành án dân sự như sau:

      1. Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà người bị tố cáo thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức nào thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức đó có trách nhiệm giải quyết.

      2. Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự thì Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự cấp trên trực tiếp hoặc Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp có trách nhiệm giải quyết.

      Trường hợp người bị tố cáo là Thủ trưởng cơ quan thi hành án cấp quân khu thì Thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án thuộc Bộ Quốc phòng có trách nhiệm giải quyết.

      Thời hạn giải quyết tố cáo là 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết tố cáo có thể dài hơn, nhưng không quá 90 ngày.

      3. Tố cáo về hành vi vi phạm pháp luật có dấu hiệu tội phạm được giải quyết theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

    Nguồn:

    CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn