Có thể khởi kiện hình sự với trường hợp vay tiền rồi bỏ trốn không?

Ngày hỏi:16/08/2012

Kính gửi các anh, chị! Anh chị có thể tư vấn giúp tôi trường hợp như sau: Tôi có cho 1 người vay số tiền gần 2 tỷ đồng để buôn bán gỗ. Nội dung giấy vay tiền ghi rõ số tiền, thời hạn, lãi suất là 3000đ hoặc 4000đ/ngày/1 triệu đồng.đến hạn thanh toán cả gốc và lãi chị ta đã bỏ trốn đi cùng với 1 người đến nay đc 10 tháng. gia đình tôi đã gửi đơn lên công an huyện nơi tôi và chị ta cư trú, sau một thời gian đã xác định được chỗ ở của chị ta, công an đã giúp tôi triệu tập chị ta về đồn để lấy lời khai từ 2 phía. Sau khi về đồn chị ta đã nhận vay tôi toàn bộ số tiền trên để đưa cho 1 người bạn (người bỏ trốn cùng) buôn bán gỗ. Người kia cũng nhận là đã cầm toàn bộ số tiền đó để kinh doanh và đi trả lãi cho những chỗ vay khác. 2 bên gia đình hứa là sẽ khắc phục 1 phần hậu quả cho tôi, và xin gia đình tạo điều kiện cho họ có thời gian để làm ăn và trả dần sô nợ còn lại cho tôi. Nhưng đến nay gia đình tôi vẫn chưa nhận được số tiền khắc phục nào cả. gia đình tôi muốn luật sư tư vấn giúp như sau: - Vụ án có khởi kiện hình sự theo tội " lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" được không? Khung hình phạt dành cho 2 người này là như nào? - Khi khởi kiện hình sự tôi có bị khép vào tội " cho vay nặng lãi không". Vì đây là lần đầu tiên cho vay kiểu như vậy và mức lãi suất là do người vay tự nguyện trả cho tôi. với tội này thì sẽ bị xử phạt như thế nào? Tôi xin cảm ơn!

    • Nếu có căn cứ xác định người đó bỏ trốn nhằm chiếm đoạt tài sản của bạn thì mới có thể khởi tố người vay về tội lạm dụng tín nhiệm, chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 140 BLHS. Thời điểm dễ khởi tố nhất là thời điểm công an tìm được người đó sau một thời gian bỏ trốn. Nay người đó đã trở về và nhận nợ thì rất khó để khởi tố hình sự.

      Nếu cơ quan điều tra chứng minh được lãi suất mà bạn cho vay vượt quá 10 lần mức lãi suất cao nhất do Nhà nước quy định tại thời điểm cho vay và với tính chất chuyên bóc lột thì mới có thể bị xử lý hình sự. Về nguyên tắc thì cho vay nặng lãi nếu không đến mức xử lý hình sự thì bị xử phạt hành chính nhưng thực tế hành vi cho vay nợ dân sự cá nhân thì ít khi bị xử phạt hành chính về hành vi cho vay nặng lãi.

      Bạn tham khảo quy định sau đây của Bộ luật hình sự:

      Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

      1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

      a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

      b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng;

      đ) Tái phạm nguy hiểm;

      e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn