Hoàn trả tạm ứng án phí

Ngày hỏi:21/07/2009
Công ty chúng tôi có khởi kiện 1 khách hàng tại TAND TPHCM, xét xử sơ thẩm tòa đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chúng tôi bằng bản án số 81 ngày 18/01/2011, Công ty chúng tôi cũng được hoàn trả số tiền án phí đã tạm ứng. Bị đơn kháng cáo bản án, ngày 14/07/2011 Tòa phúc thẩm TANDTC có QĐ số 108 đình chỉ vụ án, Bản án số 81 có hiệu lực. Chúng tôi đã làm đơn yêu cầu thi hành án và đã được Cục THADS TPHCM thụ lý giải quyết. Ngày 16/09/2011 Công ty chúng tôi đã có VB đề nghị Cục THADS TPHCM hoàn trả số tiện tạm ứng án phí theo Bản án số 81 nhưng cho đến nay Công ty chúng tôi vẫn chưa nhận được số tiền nêu trên. Khi Công ty chúng tôi liên hệ lại với Cục THADS TPHCM thì được cơ quan này thông báo là chưa nhận được bản án 81 và QĐ 108, chúng tôi lại liên hệ với 2 cấp tòa đã xét xử thì được thông báo là đã gửi bản án cho Cục THA ....Trong khi Cục THA khẳng định chỉ trả tạm ứng án phí cho công ty chúng tôi khi nhận được bản án 81 và QĐ 108 từ tòa án (chứ công ty chúng tôi cũng đã nộp bản chính BA số 81 và QĐ 108 cho Cục THA). Xin hỏi: Công ty chúng tôi phải làm gì để lấy lại được số tiền tạm ứng án phí nói trên?

    Nội dung này được Bộ Tư pháp tư vấn như sau:

    • Căn cứ quy định tại Điều 36 và Điều 126 Luật Thi hành án dân sự thì việc trả lại tiền tạm ứng án phí theo bản án, quyết định của toà án là loại việc thi hành án chủ động. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được bản án, quyết định, Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự phải ra quyết định thi hành án. Do vậy, việc hoàn trả tiền tạm ứng án phí cho công ty theo bản án, quyết định của toà án như trường hợp này không cần phải có đơn yêu cầu thi hành án.

      Trong vụ việc này, căn cứ Điều 28, 29 Luật Thi hành án dân sự, Toà án đã ra bản án, quyết định phải chuyển giao cho cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

      Khi nhận bản án, quyết định do toà án chuyển giao, cơ quan thi hành án dân sự phải kiểm tra, vào sổ nhận bản án, quyết định. Sổ nhận bản án, quyết định phải ghi rõ số thứ tự; ngày, tháng, năm nhận bản án, quyết định; số, ngày, tháng, năm của bản án, quyết định và tên toà án đã ra bản án, quyết định; họ, tên, địa chỉ của đương sự và tài liệu khác có liên quan. Việc giao, nhận trực tiếp bản án, quyết định phải có chữ ký của hai bên. Trong trường hợp nhận được bản án, quyết định và tài liệu có liên quan bằng đường bưu điện thì cơ quan thi hành án dân sự phải thông báo bằng văn bản cho toà án đã chuyển giao biết.

      Công ty bạn đã liên hệ với Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh thì được cơ quan này thông báo là chưa nhận được bản án 81 và quyết định 108, công ty lại liên hệ với hai cấp tòa án đã xét xử thì được thông báo là đã gửi bản án cho Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, việc cần phải làm rõ trách nhiệm của toà án hay cơ quan thi hành án dân sự trong việc chuyển giao và nhận bản án, quyết định của toà án. Vì thế, công ty bạn cần kiến nghị toà án trả lời rõ đã chuyển giao bản án, quyết định hay chưa, nếu đã chuyển giao thì chuyển giao ngày tháng năm nào, hình thức chuyển giao như thế nào (giao trực tiếp cho cơ quan thi hành án dân sự hay chuyển giao qua đường bưu điện hay thông qua Thừa phát lại.v.v). Trường hợp đã chuyển giao nhưng thất lạc thì kiến nghị toà án chuyển giao lại để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án trả tiền bảo đảm quyền lợi của công ty. Tóm lại, công ty cần yêu cầu toà án, cơ quan thi hành án dân sự làm rõ việc giao nhận bản án, quyết định như thế nào, không thể nói đã chuyển giao mà không có chứng cứ chứng minh đã chuyển giao được hoặc đã nhận được rồi mà nói không nhận được bản án, quyết định của toà án.


    Nguồn:

    Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn