Có được khấu trừ thuế trong đánh thuế hai lần tại Việt Nam với các nước khác?

Ngày hỏi:19/01/2017

Chị đang có 1 vấn đề vướng mắc về luật. Bên chị có ký hợp đồng làm dịch vụ nghiên cứu và phát triển sản phẩm với Công ty ABC bên nước ngoài ( ở Thái Lan), giá dịch vụ trên hợp đồng là 100 000 USD. Nhưng khi thanh toán bên khách hàng đòi giữ lại tiền thuế nhà thầu 10%. Tuy nhiên theo như hiệp định chống đánh thuế 2 lần, thì bên chị sẽ không bị trừ khoản tiền đó, nhưng chị không biết phải làm thủ tục gì để được hưởng cái Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, và bên phía khách hàng của mình phải làm gì để họ không bị trừ thuế bên nước họ. Cách khác là sau khi bên khách hàng bị trừ tiền thuế rồi, họ gửi thư xác nhận nộp thuế cho mình thì bên mình có được kê khai giảm thuế TNDN cho món đó không? Rất mong các em chỉ dẫn giúp thủ tục, và cách làm nào có thể thực hiện được ở VN?

    Nội dung này được THƯ VIỆN PHÁP LUẬT tư vấn như sau:

    • Về vấn đề chị nêu thì đây là việc áp dụng quy định pháp luật của Thái Lan, không phải quy định của Việt Nam. Nội dung này, tốt nhất là chị nên liên hệ lại với khách hàng của công ty chị, đề nghị kiểm tra lại quy định về áp dụng các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần ở Thái Lan và thực hiện theo quy định để không kê khai nộp thuế ở Thái Lan (nếu đủ điều kiện áp dụng hiệp định để không tính thuế tại Thái Lan).

      Còn về thuế TNDN của khoản tiền này thì theo quy định của hiệp định tránh đánh thuế 2 lần giữa Việt Nam và Thái Lan, cũng như các nguyên tắc áp dụng các hiệp định tránh đánh thuế 2 lần thì nếu công ty chị đã nộp thuế TNDN ở Thái Lan thì công ty chị sẽ được khấu trừ phần thuế phải nộp này khi tính thuế TNDN tại Việt Nam theo Điều 48 Thông tư 205/2013/TT-BTC quy định như sau:

      Trường hợp một đối tượng cư trú của Việt Nam có thu nhập và đã nộp thuế tại Nước ký kết Hiệp định với Việt Nam, nếu tại Hiệp định, Việt Nam cam kết thực hiện biện pháp khấu trừ thuế thì khi đối tượng cư trú này kê khai thuế thu nhập tại Việt Nam, các khoản thu nhập đó sẽ được tính vào thu nhập chịu thuế tại Việt Nam theo quy định của pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam và số tiền thuế đã nộp ở Nước ký kết sẽ được khấu trừ vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Việc khấu trừ thuế thực hiện theo các nguyên tắc dưới đây:

      a) Thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là sắc thuế được quy định tại Hiệp định;

      b) Số thuế được khấu trừ không vượt quá số thuế phải nộp tại Việt Nam tính trên thu nhập từ Nước ký kết theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam nhưng cũng không được khấu trừ hoặc hoàn số thuế đã nộp cao hơn ở nước ngoài;

      c) Số thuế đã nộp ở Nước ký kết được khấu trừ là số thuế phát sinh trong thời gian thuộc năm tính thuế tại Việt Nam.

      Ví dụ 68: Ông A là một công dân Lào và là đối tượng cư trú của Việt Nam trong năm 2011. Trong năm 2011, ông A có thu nhập tính thuế từ làm công 8 tháng tại Việt Nam là 40.000.000 đồng và 4 tháng (giai đoạn từ tháng 9/2011 đến tháng 12/2011) tại nước Lào là 80.000.000 đồng. Năm tính thuế của Lào từ ngày 01/10 đến ngày 30/9 năm sau. Theo quy định của Hiệp định giữa Việt Nam và Lào (Khoản 1, Điều 15: Hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc) ông A phải nộp thuế tại Lào đối với thu nhập có được từ nước này với mức thuế suất theo quy định của Luật thuế nước này (20%). Giả sử ngoài các thu nhập vừa nêu, ông A không có các nguồn thu nhập nào khác. Trong trường hợp này, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại Lào của ông A ở Việt Nam như sau:

      - Xác định thu nhập tính thuế của ông A trong năm tính thuế 2011 (theo pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):

      (40.000.000 đồng + 80.000.000 đồng) = 120.000.000 đồng

      - Xác định thuế thu nhập của ông A trong năm tính thuế 2011 (theo pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):

      (60.000.000 đồng x 5% + 60.000.000 đồng x 10%) = 9.000.000 đồng

      - Số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế của Lào):

      80.000.000 đồng x 20% = 16.000.000 đồng

      - Số thuế tính theo pháp luật Việt Nam trên thu nhập phát sinh tại nước Lào:

      9.000.000 đồng : 12 tháng x 4 tháng = 3.000.000 đồng

      Vậy ông A chỉ được khấu trừ 3.000.000 đồng trên tổng số thuế 16.000.000 đồng đã nộp trên 80.000.000 đồng thu nhập tiền công phát sinh tại Lào.

      Ví dụ 69: Công ty V của Việt Nam có một cơ sở thường trú tại Lào. Trong năm 2010, cơ sở thường trú này được xác định có khoản thu nhập là 100.000 đô la Mỹ. Theo quy định tại Hiệp định giữa Việt Nam và Lào (Khoản 1, Điều 7: Lợi tức doanh nghiệp), Công ty V có nghĩa vụ nộp thuế thu nhập theo Luật thuế Lào đối với số thu nhập được xác định của cơ sở thường trú này (thuế suất 20%). Trong trường hợp này, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại Lào của Công ty V ở Việt Nam như sau:

      - Xác định số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế Lào):

      100.000 đô la Mỹ x 20% = 20.000 đô la Mỹ

      - Xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam (theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):

      100.000 đô la Mỹ x 25% = 25.000 đô la Mỹ

      - Số thuế còn phải nộp tại Việt Nam:

      25.000 đô la Mỹ - 20.000 đô la Mỹ = 5.000 đô la Mỹ

      Ví dụ 70: Cũng với Ví dụ 69 nêu trên, giả sử Công ty V là công ty liên doanh và được hưởng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tại Việt Nam là 10%. Khi đó, việc kê khai nộp thuế và khấu trừ thuế đã nộp tại Lào của Công ty V ở Việt Nam như sau:

      - Xác định số thuế đã nộp tại Lào (theo Luật thuế Lào):

      100.000 đô la Mỹ x 20% = 20.000 đô la Mỹ

      - Xác định số thuế phải nộp tại Việt Nam (theo quy định pháp luật hiện hành về thuế ở Việt Nam):

      100.000 đô la Mỹ x 10% = 10.000 đô la Mỹ

      - Số thuế tối đa được khấu trừ tại Việt Nam: 10.000 đô la Mỹ

      Trong trường hợp này, Công ty V được khấu trừ 10.000 đô la Mỹ trong tổng số 20.000 đô la Mỹ tiền thuế đã nộp tại Lào. Phần chênh lệch 10.000 đô la Mỹ (20.000 đô la Mỹ - 10.000 đô la Mỹ) không được khấu trừ vào số thuế thu nhập đối với thu nhập từ trong nước (nếu có) của Công ty V và cũng không được chuyển sang năm sau.

      Trên đây là nội dung tư vấn của Thư Viện Pháp Luật. Để hiểu rõ hơn về điều này chị có thể tham khảo thêm tại Thông tư 205/2013/TT-BTC.
      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ VIỆN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn