Làm tăng số tiền được miễn thuế có bị truy cứu hình sự?

Ngày hỏi:07/05/2015
Tôi là giám đốc một công ty bị cơ quan thuế vào kiểm tra và lập biên bản vi phạm về việc sử dụng hóa đơn, chứng từ khống làm tăng số tiền được miễn, giảm thuế và sau đó chuyển hồ sơ sang cơ quan công an điều tra. Số tiền miễn, giảm thuế tôi làm tăng lên là trên 500 triệu đồng. Xin hỏi liệu tôi có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không, nếu bị tôi có thể phạm vào tội gì? (Phan Trường Giang, TP Nam Định).
    • Luật sư Đặng Văn Cường (Văn phòng luật sư Chính pháp – Đoàn luật sư thành phố Hà Nội) trả lời:

      Theo quy định tại Điều 108 - Luật quản lý Thuế năm 2006, người nộp thuế có một trong các hành vi trốn thuế, gian lận thuế sau đây phải nộp đủ số tiền thuế theo quy định và bị phạt từ 1 đến 3 lần số tiền thuế trốn:

      “4. Sử dụng hoá đơn, chứng từ bất hợp pháp để hạch toán hàng hoá, nguyên liệu đầu vào trong hoạt động phát sinh nghĩa vụ thuế làm giảm số tiền thuế phải nộp hoặc làm tăng số tiền thuế được miễn, số tiền thuế được giảm hoặc tăng số tiền thuế được khấu trừ, số tiền thuế được hoàn”.

      Luật sư Đặng Văn Cường

      Cũng theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 13 Thông tư 166/2013/TT-BTC ngày 15/11/2013 quy định chi tiết về xử phạt vi phạm hành chính về thuế thì:

      “1. Phạt tiền 1 lần tính trên số thuế trốn, số thuế gian lận đối với người nộp thuế vi phạm lần đầu (trừ các trường hợp bị xử phạt đối với hành vi khai sai dẫn đến thiếu thuế tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư này) hoặc vi phạm lần thứ hai mà có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên khi có một trong các hành vi vi phạm sau đây:

      b) Sử dụng hóa đơn, chứng từ không hợp pháp; sử dụng bất hợp pháp hóa đơn, chứng từ; Hóa đơn không có giá trị sử dụng để kê khai thuế làm giảm số thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn, số tiền thuế được miễn, giảm”.

      Bộ luật hình sự quy định về tội trốn thuế cụ thể như sau:

      “Điều 161. Tội trốn thuế.

      1. Người nào trốn thuế với số tiền từ 50 triệu đồng đến dưới 150 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi trốn thuế hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 153, 154, 155, 156, 157, 158, 159, 160, 164, 193, 194, 195, 196, 230, 232,233, 236 và 238 của Bộ luật này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm.

      2. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ một trăm năm mươi triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng hoặc tái phạm về tội này, thì bị phạt tiền từ một lần đến năm lần số tiền trốn thuế hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      3. Phạm tội trốn thuế với số tiền từ năm trăm triệu đồng trở lên hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.

      4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ một lần đến ba lần số tiền trốn thuế”.

      Theo hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 10/2013/TTLT-BTP-BCA-TANDTC-VKSNDTC-BTC hướng dẫn áp dụng một số điều của bộ luật hình sự về các tội phạm trong lĩnh vực thuế, tài chính – kế toán và chứng khoán ngày 26/6/2013 thì tội trốn thuế được hướng dẫn như sau:

      “Điều 1. Về tội trốn thuế (Điều 161 BLHS).

      1. Người phạm tội trốn thuế là người thực hiện một trong các hành vi được quy định tại Điều 108 của Luật Quản lý thuế, đồng thời thỏa mãn các dấu hiệu được quy định tại Điều 161 của BLHS.

      2. Phạm tội trốn thuế trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác quy định tại khoản 3 Điều 161 của BLHS được hiểu là trường hợp tuy số tiền trốn thuế có giá trị từ 300 triệu đồng đến dưới 600 triệu đồng, nhưng người phạm tội đồng thời thực hiện một trong các hành vi liên quan khác mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm độc lập, như: đưa hối lộ, chống người thi hành công vụ, gây thương tích cho người thi hành công vụ, hủy hoại tài sản của cơ quan quản lý thuế, công chức quản lý thuế và các cơ quan nhà nước khác có trách nhiệm trong việc thực hiện quản lý thuế. Trường hợp các hành vi này có đủ yếu tố cấu thành tội phạm khác thì ngoài tội trốn thuế, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng”.

      Theo thông tin bạn cho biết, bạn đã sử dụng hóa đơn, chứng từ khống làm tăng số tiền được miễn giảm thuế lên trên 500 triệu đồng.

      Hành vi của bạn có dấu hiệu quy định tại Điều 108 Luật quản lý thuế nêu trên nên có thể bị xử lý theo quy định tại Điều 161 Bộ luật hình sự về tội trốn thuế, với khung hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm.


    Nguồn:

    Theo ViệtBáo
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn