Quy định về giá tính thuế giá trị gia tăng trước 01/01/2004

Theo dõi sự thay đổi của Giá tính thuế giá trị gia tăng
Ngày hỏi:24/10/2018

Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2004 có quy định sửa đổi, bổ sung về vấn đề xác định giá tính thuế giá trị gia tăng. Vậy, trước khi Luật thuế giá trị gia tăng sửa đổi 2003 có hiệu lực thi hành thì vấn đề trên được quy định như thế nào?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2004 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

      Các hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật tại Điều 4 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997.

      Theo quy định tại Điều 6 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997 thì giá tính thuế giá trị gia tăng và thuế suất giá trị gia tăng là căn cứ để tính thuế giá trị gia tăng.

      Trong đó, theo quy định tại Điều 7 Luật Thuế giá trị gia tăng 1997 thì trước ngày 01/01/2004, giá tính thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:

      1. Đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng;

      2. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá nhập tại cửa khẩu, cộng với thuế nhập khẩu;

      3. Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, sử dụng nội bộ, biếu, tặng là giá tính thuế giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này;

      4. Đối với hoạt động cho thuê tài sản là số tiền thuê thu từng kỳ;

      5. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp là giá bán của hàng hóa, tính theo giá bán trả một lần, không tính theo số tiền trả từng kỳ;

      6. Đối với gia công hàng hóa là giá gia công;

      7. Đối với hàng hóa, dịch vụ khác là giá do Chính phủ quy định;

      Giá tính thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này bao gồm cả khoản phụ thu và phí thu thêm mà cơ sở kinh doanh được hưởng.

      Trường hợp đối tượng nộp thuế có doanh số mua, bán bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá chính thức do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh số để xác định giá tính thuế.

      Trên đây là quan điểm tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn