Quy định về bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của ngân hàng

Ngày hỏi:28/11/2017

Khoản 10 quy định khi bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng thì khách hàng của bên bảo lãnh là bên bảo lãnh đối ứng. Khi chi nhánh ngân hàng nước ngoài (chi nhánh NHNNg) phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của ngân hàng mẹ thì số dư các khoản bảo lãnh này sẽ được tính cho khách hàng là ngân hàng mẹ, nên chi nhánh NHNNg sẽ bị hạn chế phát hành bảo lãnh vì phải tuân thủ quy định về giới hạn cấp tín dụng. Đề nghị cho phép không tính số dư phát hành bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của ngân hàng mẹ hoặc chi nhánh khác ở nước ngoài trong cùng hệ thống vào số dư khi tính giới hạn cấp tín dụng đối với một khách hàng vì rủi ro thấp.

    Nội dung này được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tư vấn như sau:

    • Quy định về bảo lãnh trên cơ sở bảo lãnh đối ứng của ngân hàng
      (ảnh minh họa)
    • Khoản 3 Điều 13 Thông tư 36/2014/TT-NHNN ngày 20/11/2014 quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD không có quy định cho phép loại trừ số dư bảo lãnh trong trường hợp bên bảo lãnh đối ứng là ngân hàng mẹ ở nước ngoài hoặc chi nhánh khác ở nước ngoài trong cùng hệ thống, mà chỉ cho phép loại trừ khi bên bảo lãnh đối ứng là TCTD, chi nhánh NHNNg.


    Nguồn:

    Cổng thông tin điện tử Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn