Bị vu tội chiếm đọat trẻ em

Ngày hỏi:10/09/2013

Em trai tôi năm nay 24 tuổi, đã xuất gia và đang là Trụ trì chùa Phổ môn, xóm 10 thôn Nghi Liên, TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Hồi đầu tháng 01/2013 Em trai tôi đến nhà chị Yến cũng trú tại Nghi Liên, TP Vinh, Nghệ An chở con trai chi đi ......trước và họ cùng gặp nhau ở Vinh. Sau đó chị Yến gọi điện cho chồng và đã có sự hiểu nhầm nên chồng chị gọi CA bắt em tại Vinh và ra quyết định tạm giam với tội danh Chiếm đoạt trẻ em. Đến nay em tôi đã bị tạm giam 8 tháng mà vẫn chưa thấy tòa kêu án. Hiện gia đình tôi đang rất hoan mang mà không biết phải nên làm như thế nào để vụ việc này được ra tòa trong thời gian sớm nhất ? Xin nhờ sự hướng dẫn của luật sư. Gia đình chân thành cảm ơn! Còn sau đây là những thắc mắt của em và gia đình: Em trai, bị bắt tạm giam với tội danh chiếm đoạt trẻ em (đây là vấn đề hiểu nhầm, vì gia đình kia cũng là đạo hữu thân tín hay đi tới chùa mà em tôi đang trụ trì, với lại em tôi đã xuất gia thì không có động cơ gì để chiếm đoạt trẻ em? Lệnh tạm giam được thực hiện từ tháng 1 năm 2013 đến nay là cuối tháng 8 năm 2013 vẫn chưa thấy tòa án giải quyết). Thấy thời gian điều tra khá lâu nhưng chưa có kết quả gia đình rất nóng lòng nên ra Vinh thăm hỏi thì được Anh Nguyễn Đình Dũng đội CSHS công an TP Vinh là Phó CA Chịu trách nhiệm điều tra vụ việc của em tôi trả lời rằng tội danh chiếm đoạt trẻ em được khép lại và truy tố tội: 1. Lợi dụng tín ngưỡng để chiếm đoạt tài sản, 2. Sử dụng bằng THPT giả. Gia đình tôi hiện đang rất hoang mang vì những lý do trên là : 1. Em tôi đi tu, cúng kính những ngày lễ phật là lịch sử và cũng được nhà nước công nhận với lại quỹ có được cũng chỉ dùng mục đích xây chùa và từ thiện có thu chi của Ban Trì Sự thì sao gọi là chiếm đoạt tài sản. 2. Nếu em sử dụng bằng giả hay không thì CA điều tra làm rõ và nếu là bằng giả mà em không phải đối tượng phạm tội nhiều lần cũng không cố ý sử dụng bằng giả gây hậu quả nghiêm trọng hay tái phạm nguy hiểm thì em cũng không đến nỗi phải chịu trách nhiệm hình sự ? Vậy tại sao em tôi đã bị tạm giam với thời gian dài đến nay vẫn chưa được định ngày xét xử? Vậy với hình thức giam để điều tra mà CA Thành phố vinh giam cầm em tôi lâu vậy liệu có đúng theo quy định của pháp luật hay không? Gia đình tôi cần phải làm gì để vụ việc được giải quyết nhanh nhất? Xin nhờ sự giúp đỡ và chân thành cảm ơn!

    • Em bạn có tội hay không, tội gì, trách nhiệm pháp lý đến đâu... là vấn đề mà cơ quan điều tra đang làm rõ. Nếu trong quá trình điều tra, thấy có căn cứ em bạn phạm tội khác thì có quyền khới tố thêm về tội đó. Nếu không có căn cứ về việc xử lý tội danh đã khởi tố thì sẽ đình chỉ điều tra với tội danh đó... Tuy nhiên, pháp luật cũng quy định về thời hạn tạm giam, thời hạn điều tra vụ án hình sự. Nếu 8 tháng điều tra thì có thể chưa vi phạm tố tụng nhưng nếu lâu hơn thì có thể cơ quan điều tra đã vi phạm tố tụng hình sự.

      Thời hạn điều tra phụ thuộc vào từng loại tội danh và việc có gia hạn điều tra hay không. Bạn tham khảo quy định sau đây của Bộ luật tố tụng hình sự:

      "Điều 119. Thời hạn điều tra

      1. Thời hạn điều tra vụ án hình sự không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, kể từ khi khởi tố vụ án cho đến khi kết thúc điều tra.

      2. Trong trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn điều tra, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra.

      Việc gia hạn điều tra được quy định như sau:

      a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra một lần không quá hai tháng;

      b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng và lần thứ hai không quá hai tháng;

      c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra hai lần, mỗi lần không quá bốn tháng;

      d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

      3. Thẩm quyền gia hạn điều tra của Viện kiểm sát được quy định như sau:

      a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra;

      b) Đối với tội phạm nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

      c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực gia hạn điều tra lần thứ nhất; Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ hai. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai;

      d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu gia hạn điều tra lần thứ nhất và lần thứ hai; Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương gia hạn điều tra lần thứ ba.

      4. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn điều tra thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

      5. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà thời hạn gia hạn điều tra đã hết, nhưng do tính chất rất phức tạp của vụ án mà chưa thể kết thúc việc điều tra thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn thêm một lần không quá bốn tháng.

      Đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

      6. Khi đã hết thời hạn gia hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm thì Cơ quan điều tra phải ra quyết định đình chỉ điều tra.

      Điều 120. Thời hạn tạm giam để điều tra

      1. Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá hai tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá ba tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá bốn tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

      2. Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, xét cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là mười ngày trước khi hết hạn tạm giam, Cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

      Việc gia hạn tạm giam được quy định như sau:

      a) Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam một lần không quá một tháng;

      b) Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá hai tháng và lần thứ hai không quá một tháng;

      c) Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam hai lần, lần thứ nhất không quá ba tháng, lần thứ hai không quá hai tháng;

      d) Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam ba lần, mỗi lần không quá bốn tháng.

      3. Thẩm quyền gia hạn tạm giam của Viện kiểm sát được quy định như sau:

      a) Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp tỉnh, cấp quân khu thì Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có quyền gia hạn tạm giam đối với tội phạm ít nghiêm trọng, gia hạn tạm giam lần thứ nhất đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng;

      b) Trong trường hợp gia hạn tạm giam lần thứ nhất quy định tại điểm a khoản này đã hết mà vẫn chưa thể kết thúc việc điều tra và không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện, Viện kiểm sát quân sự khu vực có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng. Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, Viện kiểm sát quân sự cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam lần thứ hai đối với tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

      4. Trong trường hợp vụ án được thụ lý để điều tra ở cấp trung ương thì việc gia hạn tạm giam thuộc thẩm quyền của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát quân sự trung ương.

      5. Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, trong trường hợp thời hạn gia hạn tạm giam lần thứ hai quy định tại điểm b khoản 3 Điều này đã hết và vụ án có nhiều tình tiết rất phức tạp mà không có căn cứ để thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể gia hạn tạm giam lần thứ ba.

      Trong trường hợp cần thiết đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia thì Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền gia hạn thêm một lần nữa không quá bốn tháng.

      6. Trong khi tạm giam, nếu xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giam thì Cơ quan điều tra phải kịp thời đề nghị Viện kiểm sát huỷ bỏ việc tạm giam để trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

      Khi đã hết thời hạn tạm giam thì người ra lệnh tạm giam phải trả tự do cho người bị tạm giam hoặc xét cần thì áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

      Điều 164. Đình chỉ điều tra

      1. Trong trường hợp đình chỉ điều tra, bản kết luận điều tra nêu rõ quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra.

      2. Cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong những trường hợp sau đây:

      a) Có một trong những căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 105 và Điều 107 của Bộ luật này hoặc tại Điều 19, Điều 25 và khoản 2 Điều 69 của Bộ luật hình sự;

      b) Đã hết thời hạn điều tra mà không chứng minh được bị can đã thực hiện tội phạm.

      3. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, trả lại đồ vật, tài liệu đã tạm giữ, nếu có và những vấn đề khác có liên quan.

      Nếu trong một vụ án có nhiều bị can mà căn cứ để đình chỉ điều tra không liên quan đến tất cả các bị can, thì có thể đình chỉ điều tra đối với từng bị can.

      4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định đình chỉ điều tra của Cơ quan điều tra, nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra có căn cứ thì Viện kiểm sát phải trả lại hồ sơ vụ án cho Cơ quan điều tra để giải quyết theo thẩm quyền; nếu thấy quyết định đình chỉ điều tra không có căn cứ thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu Cơ quan điều tra phục hồi điều tra; nếu thấy đủ căn cứ để truy tố thì huỷ bỏ quyết định đình chỉ điều tra và ra quyết định truy tố. Thời hạn ra quyết định truy tố được thực hiện theo quy định tại Điều 166 của Bộ luật này."


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn