Cần hiểu rõ hơn về tội lưu hành tiền giả

Ngày hỏi:13/10/2008

Chúng tôi là những người dân ở vùng núi phía Bắc, chỉ biết đi làm thuê và buôn bán nhỏ ở khu vực chợ biên giới. Những người buôn bán lớn thuê mướn chúng tôi vận chuyển hàng hóa và họ trả tiền công cho chúng tôi. Vì hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên em tôi đi vận chuyển thuê hàng cho người nước ngoài và bị công an bắt hàng hóa, trong đó có tiền do người nước ngoài nhờ vận chuyển và được trả công. Nay em tôi đang bị giam giữ, chờ ngày xét xử. Gia đình rất lo lắng không hiểu tội trạng sẽ như thế nào. Nay xin nhờ luật sư giải thích rõ hơn về tội này. Số lượng tiền giả vận chuyển là bao nhiêu thì bị xử lý mức án bao nhiêu năm tù

    Nội dung này được Luật gia Minh Hương tư vấn như sau:

    • Hành vi của em chị là vận chuyển tiền giả bị công an bắt quả tang. Chắc chắn em chị sẽ bị khởi tố về tội vận chuyển tiền giả được quy định tại Điều 180 BLHS năm 1999. Đối với loại tội này được hướng dẫn đường lối xử lý như sau: - Đối với tội làm tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả: + Tiền giả bao gồm tiền Việt Nam đồng giả, ngoại tệ giả; ngoài ra còn có các loại ngân phiếu giả, công trái giả (gồm ngân phiếu, công trái giả ngân phiếu, công trái của Việt Nam hoặc công trái của nước ngoài phát hành, nhưng có giá trị thanh toán tại Việt Nam. + Nếu tiền giả có trị giá tương ứng dưới ba triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 BLHS (mức án từ 3 - 7 năm tù). + Nếu tiền giả có giá trị tương ứng từ ba triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 BLHS (mức án từ 5 - 12 năm tù). + Nếu tiền giả có giá trị tương ứng từ năm mươi triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 180 BLHS (từ 15 -20 năm, tù chung thân hoặc tử hình). - Đối với tội tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả: luật quy định xử lý mức có nhẹ hơn so với tội làm tiền giả mức xử lý quy định như sau: + Nếu tiền giả có giá trị tương ứng dưới 10 triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 180 BLHS (mức án từ 3 - 7 năm tù). + Nếu tiền giả có giá trị tương ứng từ mười triệu đồng đến dưới một trăm triệu đồng tiền Việt Nam thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 180 BLHS (mức án từ 5 - 12 năm tù). + Nếu tiền giả có giá trị tương ứng một trăm triệu đồng tiền Việt Nam trở lên thì người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự theo khoản 3 Điều 180 BLHS (mức án từ 15 - 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình). Trên đây là quy định của pháp luật về tội này, còn đối với em của chị để biết chính xác hành vi phạm tội như thế nào thì phải chờ kết quả việc điều tra, truy tố và xét xử công khai của Tòa án tại phiên tòa.


    Nguồn:

    nongnghiep.vn
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn