Cấu thành tội phạm của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

Ngày hỏi:22/01/2019

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 có cấu thành tội phạm bao gồm các dấu hiệu cụ thể nào? Rất mong nhận được sự giúp đỡ, tư vấn của quý vị luật sư?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Tại Điều 174 Bộ luật hình sự 2015 có quy định:

      "Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

      1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

      a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

      b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

      c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

      d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

      ...

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

      ...

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

      ...

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản."

      Như vậy: Căn cứ quy định trên đây thì có thể xác định cấu thành tội phạm của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cụ thể như sau:

      1. Về mặt khách quan của tội phạm:

      - Về hành vi: Người phạm tội có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người bị hại. Ở đây, người phạm tội thực hiện liên tiếp hai hành vi cụ thể: Một là dùng thủ đoạn gian dối, lừa dối người bị hại; hai là thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

      Trong đó:

      - Hành vi dùng thủ đoạn gian dối ở đây có thể được hiểu là hành vi của người phạm tội bằng lời nói, hành động hoặc những thủ đoạn khác nhằm cung cấp các thông tin sai lệch, không đúng sự thật nhằm lừa dối người bị hại, làm cho người bị hại tin nhừng gì người phạm tội cung cấp là đúng sự thật, để người phạm tội giao tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của mình cho người phạm tội.

      - Hành vi chiếm đoạt tài sản có thể được hiểu là hành vi của người phạm tội nhận tiền hoặc vật chất khác (có thể định giá được bằng tiền) từ người bị hại một cách trái pháp luật.

      Cũng có thể hiểu là người bị hại đã tin tưởng vào các thông tin sai lệch, không đúng sự thật mà người phạm tội đưa ra, nên đã tự nguyện chuyển giao quyền sở hữu hoặc quyền quản lý tài sản hợp pháp của mình cho người phạm tội.

      - Về mặt hậu quả: Tài sản của người bị hại bị chiếm đoạt bất hợp pháp.

      2. Về mặt chủ quan của tội phạm:

      - Về lỗi: Người thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp.

      Người phạm tội nhận thức rõ hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác là hành vi trái pháp luật. Người phạm tội đồng thời thấy trước hậu quả của hành vi đó là tài sản của người khác bị chiếm đoạt trái pháp luật và mong muốn hậu quả đó xảy ra.

      - Mục đích của hành vi phạm tội là dấu hiệu bắt buộc: Nhằm chiếm đoạt tài sản của người bị hại.

      3. Mặt khách thể của tội phạm:

      Tội phạm xâm phạm đến mối quan hệ liên quan đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ.

      4. Về mặt chủ thể của tội phạm:

      Người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự đầy đủ.

      Hình phạt đối với người phạm tội trộm cắp tài sản:

      Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng trở lên hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

      - Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

      - Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 Bộ luật hình sự 2015, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

      - Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

      - Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ; tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

      Tùy vào trừng trường hợp cụ thể, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 20 năm hoặc tù chung thân.

      Ngoài ra, người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

      Trên đây là quan điểm tư vấn của chúng tôi đối với vấn đề mà bạn đang thắc mắc.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    Chiếm đoạt tài sản
    Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
    Trách nhiệm hình sự
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn