Chỉ chỗ cho người khác mua ma túy có bị tội gì không?

Ngày hỏi:21/10/2016

Cho em hỏi, em có 1 anh ruột chỉ cho 1 người bạn chỗ mua ma tuý thì hỏi có liên quan gì không? Không nhận được gì trong đó hay không liên quan gì vấn đề sau đó hiện giờ những người đó bị bắt nhưng anh em sợ có liên quan. Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Điều 194 Bộ luật hình sự 1999 quy định tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy như sau:

      1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Phạm tội nhiều lần;

      c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

      d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

      e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

      g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

      h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

      i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

      k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

      l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

      m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

      n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

      o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

      p) Tái phạm nguy hiểm.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

      a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

      b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

      c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

      d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

      đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

      e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

      g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

      h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

      a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

      b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

      c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

      d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

      đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

      e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

      g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

      h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

      Cụ thể, theo nội dung của Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng Các tội phạm về ma túy quy định thì:

      “Mua bán trái phép chất ma túy” là một trong các hành vi sau đây:

      a) Bán trái phép chất ma túy cho người khác (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có) bao gồm cả việc bán hộ chất ma túy cho người khác để hưởng tiền công hoặc các lợi ích khác;

      b) Mua chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

      c) Xin chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

      d) Dùng chất ma túy nhằm trao đổi thanh toán trái phép (không phụ thuộc vào nguồn gốc chất ma túy do đâu mà có);

      đ) Dùng tài sản không phải là tiền đem trao đổi, thanh toán… lấy chất ma túy nhằm bán lại trái phép cho người khác;

      e) Tàng trữ chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác;

      g) Vận chuyển chất ma túy nhằm bán trái phép cho người khác.

      Người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức cho người thực hiện một trong các hành vi mua bán trái phép chất ma túy được hướng dẫn từ điểm a đến điểm g tiểu mục 3.3 phần II Thông tư liên tịch 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

      Như vậy, trong trường hợp anh của bạn ngoài hành vi giới thiệu chỗ mua bán, tuy không hưởng hoa hồng môi giới, không sử dụng cũng như tàng trữ hay vận chuyển trái phép chất ma túy thì vẫn có thể bị coi là người giúp sức cho người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội danh mua bán trái phép chất ma túy.

      Ngoài ra nếu người có hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị xử lý trách nhiệm hình sự theo kết luận của cơ quan điều tra, anh của bạn thông qua hành vi giới thiệu chỗ mua bán có thể được coi là đã biết về tội phạm xảy ra nhưng không tố giác tội phạm thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự với tội danh không tố giác tội phạm được quy định tại Bộ luật Hình sự 1999 sửa đổi bổ sung 2009:

      Điều 314. Tội không tố giác tội phạm

      1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

      2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị e m ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

      3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

      Trên đây là tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật về chịu trách nhiệm khi chỉ chỗ cho người khác mua ma túy. Bạn nên tham khảo chi tiết Bộ luật hình sự 1999 để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn