Dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác, phạm tội gì?

Ngày hỏi:21/04/2016

Nguyễn Thị X thường trú tại số 12 Nguyễn Công Trứ, quận H, hành nghề kinh doanh mua bán quần áo nên quen biết nhiều người. Năm 2012, Nguyễn Thị X vay mượn của nhiều người, đến hạn nhưng không thanh toán, X dùng giấy tờ ngôi nhà số 12 Nguyễn Công Trứ, quận H thế chấp cho nhiều người để vay mượn tiền kinh doanh nhưng thực chất X sử dụng trả nợ, trả lãi vay trước đó và chi tiêu trong gia đình. Với thủ đoạn nêu trên từ năm 2014 đến năm 2015, X đã chiếm đoạt của 5 người bị hại với tổng số tiền 829.850.000đ. Ngày 04/02/2016, Nguyễn Thị X đã lập hợp đồng mua bán ngôi nhà số 12 Nguyễn Công Trứ cho bà K và hợp đồng này đã được phòng công chứng chứng nhận. Biết được sự việc trên, 5 bị hại đã tố cáo X đến cơ quan công an. Đề nghị cho biết hành vi của X bị xử lý về tội gì? Mức hình phạt được quy định như thế nào?

    • Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như sau:

      “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ năm trăm nghìn đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới năm trăm nghìn đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Có tính chất chuyên nghiệp;

      c) Tái phạm nguy hiểm;

      d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

      g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

      Như vậy, bằng thủ đoạn dùng giấy tờ nhà thế chấp để vay tiền của một số người, đến hạn không thanh toán lại đem tài sản đó bán cho người khác nhằm để tẩu tán tài sản, trốn tránh nghĩa vụ trả nợ thì X đã có đủ yếu tố cấu thành “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Với tổng số tiền chiếm đoạt là 829.850.000đ, X sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự nêu trên. Mức hình phạt được áp dụng đối với X là phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình. Ngoài ra, X còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.


    Nguồn:

    Trang thông tin tuyên truyền, Phổ biến pháp luật - Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật TP Hà Nội
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn