Làm gì khi bị lừa đảo chiếm đoạt tài sản?

Ngày hỏi:23/10/2013

Chào quý Luật sư !  Tôi hiện đang ở TP HCM , công việc đặc thù của tôi là sử dụng máy in nên việc sữa chữa, bảo trì máy in cũng khá thường xuyên. Vừa qua hồi đầu tháng 10/2013 qua mạng internet tôi biết người tên Thành (nhân viên bảo trì máy in ở địa chỉ 383/3/40F Quang Trung, Phường 16, Gò Vấp) nên gọi điện đến nhờ sữa chữa và thay linh kiện trong máy in của tôi. Sau nhiều lần liên hệ và làm việc chung anh ta được tôi tin tưởng nên khoảng 5h chiều ngày 16/10 anh ta có đến mang 01 máy in của tôi về để bảo hành ( trước đó ngày 11/10/2013 anh ta thay linh kiện cho tôi với giá 1.400.000đ nhưng không dùng được). Đến nay đã được 07 ngày nhưng không liên lạc được với tất cả các số điện thoại anh ta sử dụng, nhắn tin cũng không được trả lời , duy nhất có ngày 19/10/2013 anh ta nhắn tin đến báo là anh ta đã "đem máy của tôi thay cho một máy khác và đừng có hối anh ta''. Mặc dù tôi đã nhắn tin hết lần này đến lần khác yêu cầu phải hoàn trả lại máy in nhưng không được hồi âm, cho đến hiện tại, các số điện thoại của anh ta vẫn không liên lạc được .  Qúy Luật sư vui lòng cho tôi hỏi, với trường hợp của tôi nêu trên thì anh ta có bị coi là lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, và tôi có thể trình báo với cơ quan chức năng ở đâu, như thế nào?  Tổng giá trị máy in của tôi là : 1.400.000 + 2.000.000 ( giá máy cũ thị trường )  Rất mong nhận được sự giúp đỡ. Xin chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được THƯ VIỆN PHÁP LUẬT tư vấn như sau:

    • Trong trường hợp của anh thì người tên Thành có thể phạm vào tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của bộ luật hình sự:

      "Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

      1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Có tính chất chuyên nghiệp;

      c) Tái phạm nguy hiểm;

      d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

      g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

      Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

      1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

      a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

      b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

      đ) Tái phạm nguy hiểm;

      e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này."

      Anh có thể xem xét đối chiếu hành vi của người tên Thành với các quy định của các điều khoản nêu trên. Nếu có dấu hiệu của tội phạm thì anh có thể làm đơn gửi cơ quan công an có thẩm quyền tố cáo về hành vi của người đó.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn